Liên kết website
Quảng cáo

Tự lực văn đoàn và Thơ mới sau hơn nửa thế kỷ nhìn lại

01/02/2013

                                       PHONG LÊ

GS. Viện Văn học

Không phải chờ đến hôm nay – năm 2012, kỷ niệm 80 năm phong trào Thơ mới và Tự lực văn đoàn, chúng ta mới nhận lại giá trị của hai bộ phận làm nên trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam thời 1930-1945. Cuộc nhận lại giá trị ấy đã được thực hiện từ khởi động của công cuộc Đổi mới vào giữa thập niên 80 thế kỷ XX. Với Thơ mới, có thể là được bắt đầu từ 1982 qua tâm sự của Hoài Thanh, nói với con trai là Từ Sơn, trong bệnh viện, trước khi qua đời ngày 14/03/1982, sau hơn 35 năm kiên quyết chối bỏ cả Thơ mới lẫn đứa con tinh thần sớm nhất của mình: “Cha biết văn chương của cha cũng vầy vậy thôi. Nếu không có cuốn Thi nhân Việt Nam thì đã không chắc gì người ta công nhận cha thực sự là một nhà văn”1. Tâm sự này được anh Từ Sơn viết ra vào tháng 10/1988, rồi đưa in trong Hoài Thanh: Di bút và Di cảo, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1993, sau Hội thảo kỷ niệm 10 năm ngày mất Hoài Thanh và 50 năm xuất bản Thi nhân Việt Nam, do Viện Văn học cùng một số cơ quan bạn chủ trì, tổ chức tại Hà Nội ngày 27/03/1992. Cũng thời gian này, vào tháng 5/1989, diễn ra Hội thảo về Tự lực văn đoàn do Khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội và Nhà xuất bản Đại học tổ chức, với sự tham gia của khá đông nhà thơ, nhà văn và giới giảng dạy, nghiên cứu, phê bình.

Giờ đây, sau 80 năm, hai sự kiện cùng một trào lưu nghệ thuật và cùng có chung số phận thăng trầm, tôi nghĩ, sẽ là dịp cho chúng ta ôn lại để thấy, với sự nghiệp Đổi mới, di sản văn học và văn hóa dân tộc, từ cổ điển đến hiện đại của chúng ta bỗng trở nên phong phú hơn, giàu có hơn. Và, với thời hiện đại, trên con đường hiện đại hóa và cách mạng hóa, mọi giá trị có đóng góp ít hoặc nhiều, xa hoặc gần, gián tiếp hoặc trực tiếp cho yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người - ở đây là con người cá nhân đều được nhìn nhận trong một chỉnh thể không loại trừ nhau, mà bổ sung cho nhau; sau một thời kỳ dài bị phân cách, thậm chí bị đối lập trong một cuộc chiến “Ai thắng ai?” giữa hai phe trên thế giới; giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa; giữa hai giai cấp và hai hệ ý thức tư sản và vô sản; giữa tập thể và cá nhân; giữa chung và riêng...

Trở lại câu chuyện Tự lực văn đoàn và Thơ mới hôm nay, với tôi, có ý nghĩa như là một tiêu điểm, một tấm gương thu nhỏ, để nhận lại một bối cảnh, một hành trình chung với nhiều thăng trầm của đời sống văn chương- học thuật dân tộc trong thế kỷ XX.

*

*     *

Với hai cơ quan ngôn luận lớn, tiếp tục nhau là Phong hóaNgày nay; với Nhà xuất bản Đời nay chuyên in sách của Tự lực văn đoàn - Ngày nay ngày nay in nhà in nhà2 - mỗi quyển sách ở trang bìa 4 đều ghi đủ tác phẩm của mỗi tác giả, gồm sách đã in với giá in (mà phần lớn đều ghi kèm: đã bán hết), và sách sẽ in (gợi nhiều chờ đợi cho người đọc); với Giải thưởng Tự lực văn đoàn được trao cho các tác giả có đóng góp về văn chương theo tôn chỉ của nhóm - như Nguyên Hồng, Vi Huyền Đắc, Anh Thơ, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Đỗ Đức Thu...; với những tên tuổi cộng tác viên gần gũi rất sáng danh như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Cát Tường, Trần Bình Lộc, Đoàn Phú Tứ, Trọng Lang, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Huy Cận, Thanh Tịnh...; và với một tôn chỉ gồm 10 điểm (đăng trên Phong hóa số 87; 2/3/1933) để tập hợp các thành viên, cuối cùng gồm 8 người là Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Trần Tiêu, Xuân Diệu3, Tự lực văn đoàn là tổ chức văn học lớn nhất và duy nhất quy tụ được những tên tuổi tài năng, có các nguyên tắc tổ chức vừa chặt chẽ, vừa rộng rãi trong đời sống văn học 1930-1945; một tổ chức có tính chất một khuynh hướng (tendance), một trường phái (école) văn học, đại diện cho trào lưu lãng mạn, có chung một tôn chỉ, cùng một định hướng tư tưởng và khuynh hướng nghệ thuật nhưng lại có phong cách và giọng điệu riêng, đóng góp riêng ở mỗi người. Và đó là hiện tượng chỉ có thể xuất hiện khi tiến trình hiện đại hóa đã đạt được một cái chuẩn cao, vượt ra khỏi tình trạng giao thời trước 1930; cái giao thời với sự giao thoa giữa nhiều khuynh hướng sáng tác còn lẫn vào nhau, và còn chưa thoát ra khỏi dấu ấn của phong cách và tư duy nghệ thuật trung đại.

Trong nghĩa đầy đủ của trào lưu văn chương lãng mạn trước 1945, bên cạnh Tự lực văn đoàn có sự tồn tại của phong trào Thơ mới, bao gồm nhiều chục nhà thơ tiêu biểu - mà theo sự tuyển chọn của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam (1942), thì có đến 45 gương mặt; trong đó Tự lực văn đoàn góp vào ba tên tuổi lớn - đó là Thế Lữ và Xuân Diệu; một người là sự mở đầu ngoạn mục; một người là đỉnh cao, mới nhất; cùng với Tú Mỡ là nhà thơ trào phúng duy nhất muốn như là sự kế tục Tú Xương. Năm người còn lại, trong đó có ba anh em họ Nguyễn Tường gồm Nguyễn Tường Tam - Nhất Linh, Nguyễn Tường Long - Hoàng Đạo, Nguyễn Tường Lân - Thạch Lam; và hai anh em họ Trần là Trần Khánh Dư - Khái Hưng và Trần Tiêu, đều là những cây bút văn xuôi tiêu biểu, với các phong cách và đóng góp khác nhau. Tám tên tuổi làm nên khuynh hướng lãng mạn của Tự lực văn đoàn, để cùng tồn tại bên cạnh trào lưu hiện thực gồm một số lượng đông đảo hơn những cây bút sáng giá, trong đó một số lớn là viết cho Tân dân và làm nên thương hiệu Tân dân của ông chủ Vũ Đình Long, chung quanh Nhà xuất bản Tân dân và các tờ Tiểu thuyết thứ Bảy, Ích hữu, Tao đàn và Tủ sách Phổ thông bán nguyệt san... Với Vũ Đình Long, đời sống văn học 1930-1945 có thêm một nhóm viết, trong tư thế cạnh tranh nghiêng ngửa với Tự lực văn đoàn; bên cạnh một số nhóm viết khác có vị trí yếu hơn, và tuổi thọ ngắn hơn như Tiểu thuyết thứ Năm, Hà Nội báo, các Nhà xuất bản Mai Lĩnh, Hàn Thuyên; hai tờ Tạp chí Tri tân, Thanh nghị và những người viết tự do tương đối đông đảo, không theo nhóm phái nào.

Trong quan hệ với Thơ mới, Tự lực văn đoàn là một đồng minh, một trợ thủ tích cực trong việc phê phán, công kích thơ cũ, và cổ súy cho thơ mới, bằng những bài viết sắc sảo của Nhất Linh, Nhị Linh (Khái Hưng), Tứ Ly (Hoàng Đạo), Tú Mỡ, Lê Ta (Thế Lữ), Việt Sinh (Thạch Lam) trên Phong hóa, ngay từ 1932, khi Thơ mới xuất hiện với bài thơ trình làng của Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn số 122 (10/3/1932).

Phong hóa từ khi Nhất Linh đứng tên, trên số 14 (22/9/1932), tức hơn nửa năm sau bài của Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn, đã có bài của Nhất Linh hô hào “bỏ luật, niêm, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ, nghĩa là tóm lại đừng bắt chước cổ nhân một cách nô lệ. Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng”. Ý tưởng này rồi sẽ vào tôn chỉ của Tự lực văn đoàn, được công bố trên Phong hóa ngót nửa năm về sau.

Tản Đà là người bị chế riễu nhiều nhất trên nhiều số của Phong hóa.

Cùng với các bài chê thơ cũ, là việc Phong hóa cho công bố những bài thơ mới của các tác giả tiên phong như Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Tú Mỡ, Huy Thông...

Sự ủng hộ này quả là rất cần thiết trong mấy năm đầu ra đời của một phong trào thơ còn bị khuất lấp trong cả một biển mênh mông thơ cũ, như trong một bài viết của Tứ Ly, trên Phong hóa số 134 (30/1/1935): “Thơ mới bắt đầu có từ bài Tình già của ông Phan Khôi. Nhưng vì thiếu người bênh vực có can đảm, thiếu thi sĩ mới có kiên chí, nên độ ấy không ai ngó tới nữa. Đến nay thơ mới nghiễm nhiên chiếm một địa vị quan trọng trong làng văn: thi sĩ mới rất nhiều, tương lai của thơ mới rất là rực rỡ”. Đến nay, tức là đầu 1935, ngót 3 năm sau ngày bài thơ Tình già ra mắt bạn đọc. Để thấy, sự phát triển của cái mới thật là nhanh, là không cưỡng được, khi nó thật sự là mới, là hợp với quy luật, là gắn với yêu cầu thời đại... Và để thấy, con mắt xanh, sự tiên đoán và dũng cảm khẳng định cái mới của các cây bút chủ trì tờ Phong hóa trong nhóm Tự lực văn đoàn là thật sự quý giá.

Sau việc phê phán thơ cũ, Tự lực văn đoàn cũng góp phần phê phán thơ mới.. dở, qua các bài bình sắc lẻm của Lê Ta (tức Thế Lữ) đối với những tên tuổi như Tường Vân và Phi Vân, Từ Bộ Hứa, Đức Văn, Nhị Thủy..., và cả Nguyễn Vỹ, Lan Sơn...

Nói như Hoài Thanh, nếu thơ cũ là loại thơ mọc như nấm, nhan nhản trên các mục Văn uyển của các báo, thì thơ mới cũng là sự lẫn lộn của những cái mới đích thực với những gì được gọi là mới; khiến cho việc phân biệt giữa mới thật và mới giả cũng cần thiết chẳng khác gì giữa mới và cũ.

Như vậy là trong sự phát triển theo xu thế hiện đại hóa, có sự hình thành các nhóm, phái văn học; và thời 1930-1945, chứ không phải trước đó, hoặc sau đó, là thời hội được các điều kiện để hình thành nên ba khuynh hướng văn học là lãng mạn, hiện thựccách mạng, trong đó văn học lãng mạn có được một thương hiệu lớn là Tự lực văn đoàn. Hoạt động chuyên tâm trong thời gian trên dưới mười năm, tính từ khi ra đời chính thức cái tên Tự lực văn đoàn với tôn chỉ 10 điểm của nó, vào tháng 3 năm 1933, cho đến mở đầu những năm 40, khi nhóm tan rã, rồi Thạch Lam mất năm 1942, Tự lực văn đoàn đã gây nên được một sự sôi nổi, hấp dẫn trong đời sống văn học công khai. Tất nhiên nó đã từng là đối tượng phê phán, chỉ trích của Đề cương về văn hóa Việt Nam - 1943. Đến thời điểm 1948, khi viết Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, tác giả Trường Chinh vẫn tiếp tục sự phê phán gay gắt đối với nó, cùng với các nhóm phái khác ở ngoài khu vực tả thực và tả thực xã hội chủ nghĩa: “Sau cơn khủng bố trắng 1930-1931, một sự căm thù, u uất tràn ngập tâm hồn nhân dân Việt Nam. Văn chương lãng mạn của Tự lực văn đoàn ra đời. Giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự chống đế quốc nữa, bèn chuyển ra đấu tranh bằng văn hóa chống phong kiến quan liêu (các báo Phong hóa, Ngày nay, tủ sách Tự lực văn đoàn). Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học nghệ thuật đi đôi với phong trào “vui vẻ, trẻ trung” có tính chất trụy lạc của thanh niên, trí thức, tư sản thành thị. Thực dân Pháp khuyến khích những khuynh hướng đó, cốt đánh lạc hướng quần chúng, nhất là quần chúng thanh niên. Chúng cho mở nhiều tiệm hút và tiệm nhảy ở các thành thị; cho xuất bản các sách khiêu dâm, kiếm hiệp, thần bí; chấn hưng đạo Phật; ra nhiều sách Thiên Chúa giáo chuyên môn chửi cộng sản; phát triển phong trào hướng đạo để nắm thanh niên”4.

Một phê phán có thể là cần thiết trong bối cảnh lịch sử dân tộc trước 1945, nhất là thời tiền cách mạng: 1941-1945. Nhưng nếu nhìn vào toàn cảnh sự phát triển của lịch sử và lịch sử văn học trong suốt thế kỷ XX - cho đến nay thì lại thấy có những điều cần được bàn lại, hoặc cần phải sửa chữa, điều chỉnh.

Thế nhưng nếu so với Đề cương văn hóa... năm 1943, thì ý kiến sau đây của Trường Chinh vào năm 1948 này là có khía cạnh thỏa đáng: “Dù sao, hoạt động của nhóm Tự lực văn đoàn cũng đã góp phần đẩy phong trào văn nghệ nước ta tiến lên một bước ngắn”5. Một bước ngắn, chứ không phải là một bước, hoặc một bước dài - vẫn là cách viết cân nhắc, thận trọng của Trường Chinh.

Nói thỏa đáng là bởi những thành kiến đối với văn học lãng mạn phải từ sau Chiến dịch Biên giới 1950, khi những ảnh hưởng của văn nghệ Diên An tràn vào mới thật sự chi phối đời sống tinh thần của dân tộc. Còn trước đó thì những giá trị của văn học trước 1945 nhìn chung là có ở tất cả các khuynh hướng văn học, chứ chưa có sự đối lập hoặc khác biệt giữa hiện thực và lãng mạn, không nói đến cách mạng, như ý kiến sau đây của Nguyễn Đình Thi: “Cuộc kháng chiến của ta hiện thời kỳ thực nguồn gốc đã ở bao nhiêu đấu tranh ngày trước. Những đấu tranh ấy, trước ngày khởi nghĩa thể hiện trong văn chương thời đó gọi là “tả chân”, sau khởi nghĩa thì tiến lên như sóng. Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, nhất là Vũ Trọng Phụng và các nhà văn nhóm Tự lực: Nhất Linh, Thạch Lam v.v... khi công kích xã hội cũ đều ở chính giữa hoặc bên cạnh cái dòng đi lên của văn chương”6.

Thế nhưng, sau Chiến dịch Biên giới, kể từ 1950, khi các cuộc chỉnh huấn trí thức mở ra cùng với khẩu hiệu “Cách mạng hóa tư tưởng, Quần chúng hóa sinh hoạt”, đồng thời với việc phát động công cuộc Giảm tô và Cải cách ruộng đất ở nông thôn đưa tới phong trào phê bình và tự phê bình, tự kiểm thảo của giới văn nghệ sĩ, thì văn học lãng mạn và Tự lực văn đoàn mới bắt đầu bị hạ thấp và phủ định với những quy kết rất nghiệt ngã và gay gắt của chính những người trong cuộc, từng là đại diện như Hoài Thanh, Thế Lữ, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân... Từ đây Tự lực văn đoàn bị loại ra khỏi bộ phận tích cực trong di sản văn hóa dân tộc, thậm chí bị phê phán khá nặng nề; các thế hệ bạn đọc mới không được tiếp xúc vì sách không tái bản; những sách đã in thì bị cấm, không được đọc trong các thư viện; nếu muốn đọc phải đến với các phòng đọc riêng, kèm giấy giới thiệu; chương trình học trong nhà trường không có; các sách nghiên cứu nhắc đến Tự lực văn đoàn như một hiện tượng ngược dòng, có hại cho cách mạng và cho sự nghiệp giáo dục các thế hệ trẻ...

Có sự phê phán đó vì tôn chỉ và khuynh hướng sáng tác của Tự lực văn đoàn (và cả Phong trào Thơ mới) là thuộc về lãng mạn; và lãng mạn có nghĩa là sự thoát ly, sự trốn lánh, sự quay lưng với hiện thực - một hiện thực nóng rẫy và bức xúc nhu cầu cách mạng, mà đứng ở tuyến đầu phải là trào lưu văn học cách mạng, dám kêu gọi con người lên đường, dấn thân vào cuộc chiến đấu chống áp bức bóc lột, tức là chống chủ nghĩa thực dân và phong kiến; và nếu chưa đạt được đỉnh cao ấy, thì ít nhất cũng phải được là trào lưu hiện thực; tức là trào lưu dám đối diện để vạch trần những mặt tối tăm của xã hội, làm nổi rõ sự tương phản giữa một bên là sự tàn bạo và tội ác của các giai cấp thống trị, và một bên là những đau xót, lầm than của các lớp người lao động, cùng khổ. Chỉ cần dám đối mặt và nói lên được một phần sự thật cay đắng và oan khổ của quần chúng, văn học hiện thực đã có thể đóng được vai trò trợ thủ cho văn học cách mạng. Và như vậy, việc Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới khuyến khích con người xa lánh hoặc trốn tránh hiện thực đó, để thoát ly vào bất cứ chỗ trốn nào - là tình yêu, là tôn giáo, là quá khứ, là các lạc thú cá nhân hoặc cõi chết, hoặc những ảo mộng vu vơ..., chứ không nói đến trụy lạc, gồm những gái, rượu, thuốc phiện, cũng đều là có hại, thậm chí còn là nối giáo cho giặc. Hãy nghe chính tác giả Thi nhân Việt Nam viết về một thời buồn rớt, đạo rớt, mộng rớt, ngắm rớt, trong cả một phong trào thơ mà ông từng ca ngợi hết lời: “Những vần thơ buồn tủi bơ vơ ấy là những vần thơ có tội; nó xui người ta buông tay cúi đầu, do đó làm yếu sức ta, và làm lợi cho giặc” (...) “những câu thơ buồn nản hay mơ mộng vẩn vơ cũng đều là bạn đồng minh của giặc. Giặc chỉ có thể xây dựng cơ đồ của chúng trên phần bạc nhược của con người. Chúng ta có không dám làm người thì chúng nó mới có khả năng làm giặc”7.

Lãng mạn, còn là ở sự quan tâm và tập trung vào cái Tôi cá nhân, là đặt cái cá nhân vào vị trí trung tâm, xa cách hoặc đối lập với cộng đồng. Trong khi cách mạng là sự tôn vinh vai trò của quần chúng, quần chúng làm nên lịch sử; là đặt niềm tin tuyệt đối vào Đoàn thể8 “Đoàn thể đã tái tạo chúng tôi, và trong bầu không khí mới của giang sơn, chúng tôi, những nạn nhân của thời đại chữ “tôi” - hay muốn gọi là tội nhân cũng được - chúng tôi thấy rằng đời sống riêng của cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống bao la của Đoàn thể”9. “Đoàn thể - đó là một cái gì rất thiêng liêng. Nước nhà đang cần đến những bàn tay, những hy sinh”10.

Như vậy, chỉ với sự nhìn nhận và phân biệt giữa hai khuynh hướng: lãng mạn và hiện thực, chứ chưa nói đến cách mạng, Tự lực văn đoàn đã trở nên thất thế, nếu ta chứng kiến suốt một thời gian dài, kể từ sau 1954, cho đến khi kết thúc chiến tranh, năm 1975, và còn kéo dài cho đến cuối những năm 80 thế kỷ XX, nội dung giáo dục các thế hệ trẻ và chương trình giáo khoa trong nhà trường trên miền Bắc là nhằm vào tám chữ: “Yêu, căm, chiến, lạc, Dậu, Pha, Phèo”11; với tám chữ đó thì những cái tên như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đời mưa gió, Bướm trắng... hoặc Gửi hương cho gió, Điêu tàn, Lỡ bước sang ngang...; và cái thế giới nhân vật gồm những Mai - Lộc, Loan - Dũng, Duy - Thơ, Hạc - Bảo, rồi những Hồng, Tuyết, Thu, Hiền, Hảo... phải biết cách mà lánh xa, chứ làm sao mà chen chân vào được!

Tất nhiên, đó là một lý do cơ bản. Còn những lý do khác, nếu đi vào tiểu sử chính trị của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo - ba nhân vật chủ chốt của Tự lực văn đoàn, từ sau 1940 đã đi vào con đường hoạt động chống lại Việt Minh, bằng cách hợp tác hoặc chạy theo các đảng phái thân Nhật hoặc thân Tưởng, để rồi, hoặc là bị bắt rồi phiêu bạt sang Tàu, và chết trong bất đắc kỳ tử trên đường từ Hồng Kông về Quảng Châu, năm 1948 như Hoàng Đạo; hoặc sau ngày Toàn quốc kháng chiến bùng nổ chạy về quê vợ là Nam Định rồi qua đời trong bí ẩn, năm 1947 như Khái Hưng; hoặc về nước, rồi vào Nam và chọn cách tự tử, do sức ép của Ngô Đình Diệm, năm 1963, như Nhất Linh. Tóm lại cả ba đều có một cách đi khác, hoặc một bước đi lạc, sau 1940, khi Tự lực văn đoàn chính thức tan rã. Với một lý lịch chính trị như thế, đương nhiên họ sẽ không còn đủ tư cách để lại dấu ấn gì trong sự nghiệp văn chương, khi cái nhìn về lý lịch gia đình, về thành phần giai cấp còn rất nặng nề trong cả một thời gian dài của lịch sử, trong bối cảnh một thế giới chia đôi, với sự đối lập giữa hai phe, hai thể chế chính trị, hai giai cấp, hai con đường; và cuộc đấu tranh ý thức hệ luôn luôn ở vị trí hàng đầu cho sự soi chiếu, đánh giá mọi hành vi và hoạt động của con người, nhất là những người được gọi là trí thức, thuộc tầng lớp trung gian có tên gọi là tiểu tư sản với phẩm chất hoài nghi, và bấp bênh, không kiên định!

Phải chờ một khoảng lùi nhiều chục năm, cho đến khi đất nước sau một cuộc cách mạng và 30 năm chiến tranh đang đi vào cuộc sống xây dựng trong thời bình và hội nhập khu vực và quốc tế; nói cách khác, khi đã có cái nhìn xuyên suốt một thế kỷ, làm gắn nối công cuộc Canh tân đất nước đầu thế kỷ đến sự nghiệp Đổi mới đất nước vào cuối thế kỷ, thì mới là lúc ta có hoàn cảnh để nhận ra hai đóng góp lớn của Tự lực văn đoàn cho đời sống văn học, và đời sống văn hóa - tinh thần của dân tộc. Đó là:

Góp công đầu vào việc đấu tranh giải phóng cá nhân ra khỏi mọi kiềm tỏa của lễ giáo và ý thức hệ phong kiến đè nặng lên đời sống tinh thần của dân tộc trong hàng nghìn năm. Đặt vào bối cảnh thời cuộc trước 1945, đương nhiên nhu cầu khẩn thiết nhất của dân tộc là đấu tranh chống đế quốc - phong kiến; nhưng nhu cầu giải phóng cá nhân cũng cần được lưu ý khi những chuyển động trong đời sống kinh tế - xã hội đã làm nảy sinh những giai tầng mới trong đời sống đô thị; khi những ảnh hưởng của văn hóa - văn minh phương Tây trong thời đại tư bản chủ nghĩa đã có con đường thâm nhập vào một tầng lớp trí thức mới, với những nhu cầu mới, từng bước làm rạn vỡ những nền nếp ý thức, tâm lý, luân lý, đạo đức cổ truyền. Việc cổ động, tuyên truyền tinh thần yêu nước cố nhiên là đứng ở hàng đầu, nhưng việc quan tâm chú ý đến những nhu cầu khác của con người như: quyền bình đẳng nam nữ; quyền được yêu, và sự gắn bó hôn nhân với tình yêu để phản đối và loại bỏ sự áp đặt của chế độ đại gia đình; quyền được có một cuộc sống có ý nghĩa, dẫu là trong khuôn khổ chế độ thuộc địa; quyền được sống với những khát vọng chính đáng của con người... cũng rất cần được khẳng định.

Và đó là lý do để giải thích sự hoan nghênh, đón đợi của một lớp công chúng trung lưu thành thị, trước hết là lớp thanh niên trẻ đối với sự ra đời lần lượt của Nửa chừng xuân (1934) của Khái Hưng, Đoạn tuyệt (1935), Lạnh lùng (1937) của Nhất Linh... những tiểu thuyết lần đầu tiên (sau Tố Tâm -1925) đặt vấn đề xung đột mới - cũ, mâu thuẫn thế hệ; khẳng định một quan niệm sống mới, nhằm giải phóng cá nhân ra khỏi những trói buộc của luân lý, lễ giáo phong kiến, trước hết trong hôn nhân và đời sống gia đình. Vài năm sau, trong khí hậu Mặt trận dân chủ, Tự lực văn đoàn còn đi sâu hơn vào những mặt cổ hủ, tàn nhẫn trong các mối quan hệ và sinh hoạt của các đại gia đình phong kiến - quan lại qua các tiểu thuyết Gia đình (1936), Thoát ly (1937), Thừa tự (1940) của Khái Hưng -nhằm cổ vũ cho những cuộc “thoát ly” mà tìm đến “những ngày vui”, hoặc những “con đường sáng”, đó là con đường tự lập của tuổi trẻ. Yêu cầu giải phóng cá nhân ở Tự lực văn đoàn còn đi tiếp một chặng đường mới cho đến Bướm trắng (1941) của Nhất Linh, Đẹp (1941) và Thanh Đức (1943) của Khái Hưng12, khi cái cá nhân vừa mới kịp tháo bỏ những rào chắn của đại gia đình phong kiến đã chuyển sang lối sống của tư sản, để có thể chủ trương thụ hưởng mọi lạc thú ở đời, thỏa mãn tận cùng mọi nhu cầu của con người trong một sự sống buông thả, trụy lạc..

Đây cũng là thời Nguyễn Tuân viết Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941) và Yêu ngôn.

Vũ Hoàng Chương viết Say, Quên. Và ra đời nhóm thơ Xuân thu nhã tập.

Từ lâu, Tự lực văn đoàn bị phê phán rất nặng ở chặng cuối này, cho đó là sự cổ vũ cho lối sống vô luân (Thanh Đức, Bướm trắng), cho chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật (Đẹp). Ở thời điểm hôm nay, một hiện thực như được Nhất Linh, Khái Hưng miêu tả rõ ràng là có thể tin được với các căn nguyên có thể giải thích được. Điều cần nói thêm là một sự ủng hộ, thậm chí là thi vị hóa cuộc sống vô luân như giới nghiên cứu thường quy kết cho Nhất Linh, Khái Hưng, quả không dễ có được sự thuyết phục. Theo tôi, đây là một miêu tả tự nhiên và khách quan về hiện thực. Đó là hiện thực thời họ sống, và hiện thực hôm nay chúng ta đang sống. Chỉ có điều là phải sau hơn một nửa, hoặc ngót hai phần ba thế kỷ chúng ta mới nhận ra điều này. Có nghĩa là Tự lực văn đoàn, qua hai đại diện của nó, đã đi dần từ lãng mạn đến hiện thực. Tất nhiên là một hiện thực, với các giới hạn, hoặc hạn chế của nó.

Sau yêu cầu giải phóng cá nhân, cũng không thể nói là Tự lực văn đoàn triệt để quay lưng với yêu cầu giải phóng dân tộc. Rõ ràng là, nếu tinh thần dân tộc và lòng yêu nước còn lâu, hoặc còn xa mới có thể vươn đến các đỉnh cao như các chiến sĩ cộng sản, thì một sự bất bình với thời cuộc, một gửi gắm ít nhiều khát vọng tự do trong hình ảnh những “khách chinh phu” như Dũng trong Đôi bạn, Đoạn tuyệt Thế rồi một buổi chiều cũng là hiện tượng rất nên thể tình. Và như vậy là trong khi thoát ly, trốn tránh hiện thực mất nước là hiện thực lớn nhất, “các tầng lớp tư sản dân tộc và tiểu tư sản trí thức” đã “tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa”, như ý của Trường Chinh trong tác phẩm đã dẫn trên13.

Còn về yêu cầu giải phóng cá nhân thì rõ ràng chỉ được đặt ra trong văn học lãng mạn. Có nghĩa là Tự lực văn đoàn đã có công dấn thân vào một cuộc chiến khác, cũng chỉ mới có hoàn cảnh để đặt ra vào nửa đầu thế kỷ XX khi xã hội thuộc địa chính thức hình thành, với sự ra đời của các tầng lớp cư dân trong đời sống đô thị. Một cuộc chiến, tiếc thay, sau khi được phát động và có được dấu ấn trong văn học khoảng hơn mười năm, buộc phải bỏ qua, hoặc bỏ quên suốt trong hơn bốn mươi năm cách mạng và chiến tranh, để rồi có dịp trở lại và nổi lên như một nhu cầu quan trọng (nếu không nói là cấp thiết) kể từ thập niên cuối thế kỷ XX, trong diễn biến của công cuộc Đổi mới...

Công lớn thứ hai của Tự lực văn đoàn, đồng thời với việc đặt ra và trả lời một yêu cầu lịch sử như đã nêu trên, đó là việc thực hiện yêu cầu hiện đại hóa, với vai trò tiên phong của nó trong văn chương dân tộc. Nếu ở trong thơ, phong trào Thơ mới đã thực hiện trọn vẹn một cuộc cách mạng, và mở ra một thời đại trong thi ca - như cách nói của Hoài Thanh (trong đó Thế Lữ và Xuân Diệu một người là chủ tướng, một người là kiện tướng) thì trong văn xuôi, sau khởi động là Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách, sẽ có sự tiếp tục liền mạch ở Khái Hưng và Nhất Linh, trong màn dạo đầu ngoạn mục với Hồn bướm mơ tiên (1934), Nửa chừng xuân (1934), Đoạn tuyệt (1935), Lạnh lùng (1937), Tiêu sơn tráng sĩ (1937), Đôi bạn (1939). Trong ngót mười năm tồn tại, cho đến Đẹp (1941), Bướm trắng (1941), Thanh Đức (1943), Tự lực văn đoàn đã góp phần quan trọng đưa tiểu thuyết Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại, trên tất cả các phương diện của cấu trúc tự sự, kiểu loại nhân vật, tư duy nghệ thuật và ngôn ngữ, giọng điệu..., sau khi dứt bỏ triệt để mọi dấu ấn trung đại. Và cùng với tiểu thuyết còn là truyện ngắn, bút ký và tiểu luận phê bình góp phần làm nên diện mạo hiện đại của văn xuôi thời kỳ 1930-1945.

Từ sự khởi đầu của Tự lực văn đoàn, giòng hiện thực với các đại diện xuất sắc là Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài sẽ làm nên một cuộc chạy tiếp sức trong tăng tốc và kết thúc để hoàn thiện diện mạo hiện đại của văn học dân tộc vào thời 1941-1945.

Từ 1940 trở đi, Tự lực văn đoàn lâm vào một cuộc khủng hoảng dẫn tới tan rã, khi ba nhân vật chủ chốt là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo tham gia vào các đảng phái chính trị đối lập với Việt Minh. Tức là khi họ đã rời bỏ con đường văn chương, với các mục tiêu cải cách văn chương và cải lương xã hội (như lập Hội Ánh sáng, hoặc nuôi giấc mộng Từ Lâm), mà chuyển sang các mục tiêu chính trị không theo quỹ đạo của Mặt trận Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo.

Nếu lấy thời điểm 1940, khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, rồi 1943 Nhật vào Đông Dương, cũng là khi Nguyễn Tường Tam thành lập Đảng Đại Việt dân chính thân Nhật, rồi bị Pháp bắt phải trốn sang Tàu; cũng là khi Hoàng Đạo và Khái Hưng bị Pháp bắt giam ở Vụ Bản cho đến 1943 được cho về Hà Nội chịu sự quản thúc; và trước đó, năm 1942, Thạch Lam qua đời vì bệnh lao, thì Tự lực văn đoàn đã có lịch sử tồn tại ngót mười năm. Còn nếu tính rộng hơn cho đến các hoạt động văn chương của Khái Hưng sau tháng Tám - 1945, như một nối dài lạc lõng không còn là của Tự lực văn đoàn, trên các tờ Ngày nay - Kỷ nguyên mới, Việt Nam (cơ quan ngôn luận của Việt Nam Cách mạng đồng minh hội), Chính nghĩa (cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc dân đảng), trên đó đăng khá nhiều bài chống đối Việt Minh14 thì lịch sử Tự lực văn đoàn còn là dài hơn. Chính cái phần đuôi này đã gây nhiều tai tiếng cho nhóm văn học có vị trí sáng giá trong ngót mười năm trước đó. Ngoài ba nhân vật chính đã kể trên thì các thành viên khác, mỗi người đều chọn một con đường riêng, trong đó Thế Lữ chuyển sang hoạt động sân khấu; Xuân Diệu trở thành người tích cực đón đợi cách mạng và viết hai trường ca Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông; Tú Mỡ rút về cơ quan Tài chính là nơi mình làm công ăn lương, và tản cư theo kháng chiến, chuyển từ làm thơ trào phúng sang làm thơ đánh địch, để có bút danh Bút chiến đấu, và là người nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua đầu tiên trong giới văn nghệ Việt Nam; Trần Tiêu tiếp tục viết các truyện về nông thôn, ở vùng tự do Liên khu Ba.

Năm tên tuổi kể trên, trừ Trần Tiêu mất sớm, đều có một sự nghiệp lớn sau 1945. Và trước 1945, trên tất cả những gì họ đã viết ở tư cách thành viên Tự lực văn đoàn cũng đều có những giá trị góp vào việc đặt ra và giải quyết những nhu cầu tinh thần của con người trong thế kỷ XX.

Mười năm tồn tại của Tự lực văn đoàn đã để lại những dấu ấn đậm nét trên tiến trình hiện đại hóa văn chương - học thuật Việt Nam thế kỷ XX.

________________

Chú thích

1. Hoài Thanh, 1993. Di bút và Di cảo, Nxb. Văn học, tr.200.

2. Vế đối báo Ngày nay đặt ra để bạn đọc tham gia, nhân Tự lực văn đoàn tự chủ được việc in ấn, xuất bản.

3. Theo Tú Mỡ trong bài Trong bếp núc của Tự lực văn đoàn (Tạp chí Văn học số 5/6-1988 và số 1/1989). Gần đây có một ý kiến khác: TLVĐ chỉ gồm 7 thành viên, mà không có Trần Tiêu.

4,5. Trường Chinh, 1958. Về văn hóa và nghệ thuật, Tập I, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr.87.

6. Tạp chí Văn nghệ số 13; tháng 6/1949.

7. Nói chuyện thơ kháng chiến, 1951. Toàn tập Hoài Thanh, 1999. Tập II, Nxb. Văn học, Hà Nội, tr. 211, 214.

8. Đoàn thể - đó có nghĩa là Đảng, lúc này đã rút vào bí mật dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, và các tổ chức xã hội do Đảng lập ra như Mặt trận Việt Minh và Mặt trận Liên Việt, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội văn nghệ...

9. Hoài Thanh, Dân khí miền Trung, Tiên phong, số 3/1945.

10. Nam Cao, 1948. Truyện ngắn Đợi chờ.

11. Yêu nước, căm thù, chiến đấu, lạc quan, và tên ba nhân vật chính trong Tắt đèn, Bước đường cùngChí Phèo.

12. Ở đây chúng tôi ghi năm xuất bản sách, chứ không ghi năm đăng báo.

13. Trường Chinh, Về văn hoá và nghệ thuật, Sđd, tr. 55.

14. Trong Câu chuyện văn chương (Chính nghĩa, số 7/10/1946) Khái Hưng bảo vệ quan điểm nghệ thuật của trào lưu lãng mạn; phản đối ba phương châm: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa của Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng Cộng sản Đông Dương. Ở thời điểm bài viết ra đời, tất nhiên nó bị phản đối từ phía cách mạng; nhưng cho đến bây giờ, nó lại có những điểm khả thủ. Các truyện ngắn Người anh hùng (Chính nghĩa, số 12-8-1946) và Nhung (Chính nghĩa, số 19-8-1946) vẫn là sự trở lại chủ đề, thế giới nhân vật và cách nhìn quen thuộc của Tự lực văn đoàn trước đây.

 

Các tin đã đưa ngày:
Quảng cáo