Liên kết website
Quảng cáo

Các hoạt động khoa học - Tạp chí Tiếng Việt số 12 (109) - 2016

09/12/2016

Hoạt động khoa học

 

1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu khoa học xã hội

Một số vấn đề cơ bản thời sự của từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt

Chủ nhiệm đề tài : GS.TS. Nguyễn Đức Tồn

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Ngôn ngữ học

Thời gian thực hiện: từ 1-2013 đến 12-2014

Thời gian nghiệm thu cấp Bộ: 1-2015

Nội dung nghiên cứu: nhận thức và bản thể trong nghiên cứu khoa học; lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và lý thuyết điển mẫu; ngôn ngữ học tâm lý với vấn đề nghĩa của từ; khái niệm “từ” trong tiếng Việt và đặc điểm của nó; lịch sử nghiên cứu vấn đề nghĩa của từ trong Việt ngữ học; cấu trúc nghĩa của từ; phương pháp phân tích và xác định cấu trúc nghĩa của từ trong tiếng Việt; quan niệm mới về từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và phương pháp xác định hai từ đồng nghĩa; phương pháp xác lập dãy đồng nghĩa và phân biệt ý nghĩa các từ đồng nghĩa trong tiếng Việt; phân biệt từ đa nghĩa và từ đồng âm trong tiếng Việt; quan niệm mới về ẩn dụ và hoán dụ; thành ngữ tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận.

Những đóng góp mới của đề tài:

Thứ nhất, đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản, thời sự của từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt trên cơ sở xem xét những vấn đề ngôn ngữ học đại cương có liên quan.

Thứ hai, đã đề xuất được mô hình chung về cấu trúc nghĩa của từ và các trường từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt tương tự như mô hình cấu trúc của hạt nhân nguyên tử, trong đó tâm luôn luôn là siêu nghĩa vị chỉ loại và một số nghĩa vị phổ biến, xuất hiện ở nhiều trường từ vựng khác nhau.

Thứ ba, đã đưa ra được giả thuyết mới cho rằng ngôn ngữ loài người nói chung, tiếng Việt nói riêng, bắt nguồn từ tiếng kêu bản năng của động vật.

Thứ tư, khẳng định rằng, có thể sử dụng được  kết cấu đồng nhất (“A là B” và “B là A”) để nhận diện, định nghĩa và xác định mức độ đồng nghĩa của các từ.

Thứ năm, đã đề xuất được việc sử dụng phương pháp lập dãy từ đồng nghĩa bằng bảng các câu hỏi để điều tra, dựa theo những con đường đã đưa đến sự hình thành các loại từ đồng nghĩa tương ứng. Đồng thời, đưa ra phương pháp xác lập ngữ cảnh có khả năng khu biệt để tìm sự khác biệt ý nghĩa giữa các từ đồng nghĩa.

Thứ sáu, đã xác định được một từ đa nghĩa khác với từ đơn nghĩa dùng trong ngữ cảnh khác nhau, trên cơ sở xác định các phạm vi thực tế khách quan khác nhau, hoặc các khái niệm khác nhau mà một từ biểu hiện. Để xác định nghĩa gốc và nghĩa chuyển trong một từ đa nghĩa, chủ yếu cần dựa vào quy luật nhận thức của con người và dựa vào quy luật chuyển nghĩa của từ.

Thứ bảy, đưa ra được định nghĩa mới về ẩn dụ và hoán dụ.

Thứ tám, đã chỉ ra được các ẩn dụ cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt được xây dựng chủ yếu từ miền Nguồn gồm: các bộ phận cơ thể của con người; các hoạt động của con người hay các sự việc, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống; các hiện tượng tự nhiên, động vật, thực vật. Còn miền Đích được quy chiếu chính là các phạm trù trừu tượng, tức các ý nghĩa biểu trưng của
thành ngữ.

Đề tài đạt loại: Xuất sắc.

                                                      BH

Đánh giá tác động của tiêu dùng xanh trong phát triển bền vững ở Việt Nam
hiện nay

Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Ngọc Ngoạn

Cơ quan chủ trì dự án: Viện Địa lý nhân văn

Thời gian thực hiện: từ tháng 1-2013 đến tháng 12-2014

Thời gian nghiệm thu cấp Bộ: 3-2015

Nội dung nghiên cứu: đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phương thức tiêu dùng xanh ở Việt Nam; nghiên cứu một số hướng tiêu dùng xanh ở Việt Nam; phân tích một số ảnh hưởng của chính sách tiêu dùng xanh đến phát triển bền vững ở Việt Nam; đề xuất các quan điểm và giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy tiêu dùng xanh gắn với phát triển bền vững ở Việt Nam đến năm 2020.

Những đóng góp mới của đề tài:

Thứ nhất, làm rõ được cơ sở lý luận liên quan đến tiêu dùng xanh, bao gồm: quan điểm tiếp cận về tiêu dùng xanh; khái niệm; vai trò; nguyên tắc, các nhân tố ảnh hưởng của tiêu dùng xanh đến phát triển bền vững; tổng quan được kinh nghiệm của Mỹ; Liên minh Châu Âu; Hàn Quốc, Trung Quốc về xây dựng chính sách liên quan đến tiêu dùng xanh. Qua đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

Thứ hai, phân tích được thực trạng tiêu dùng xanh qua các kết quả khảo sát tiêu dùng của nhóm cán bộ, nhóm doanh nghiệp, hộ gia đình. Từ đó, dự báo được xu hướng tiêu dùng xanh ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2001 đến nay.

Thứ ba, đánh giá được mức độ ảnh hưởng của cơ chế, chính sách tiêu dùng xanh đến phát triển bền vững ở Việt Nam.

Thứ tư, đưa ra được một số quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu dùng xanh ở Việt Nam qua việc khẳng định tính cấp thiết của việc hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu dùng xanh; hình thành thị trường mua sắm công nghệ xanh và các chuỗi giá trị hữu hình đạt được; đẩy mạnh chính sách giáo dục tuyên truyền về tiêu dùng xanh.

Đề tài đạt loại: Khá.

MN

Nghiên cứu đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa di tích thành nhà Mạc ở Cao Bằng

Chủ nhiệm đề tài: TS. Lê Đình Phụng

Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Khảo cổ học

Thời gian thực hiện: từ tháng 1-2013 đến tháng 12-2014

Thời gian nghiệm thu cấp Bộ: 6-2015

Nội dung nghiên cứu: hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu, kết quả khảo cổ học về hệ thống thành nhà Mạc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; so sánh hệ thống thành nhà Mạc ở Cao Bằng với những thành nhà Mạc hiện còn; đưa ra đặc trưng cơ bản của hệ thống thành nhà Mạc về vị trí xây dựng, mặt bằng tổng thể, vật liệu, kỹ thuật, chức năng, vai trò của tòa thành trong giai đoạn lịch sử vương triều Mạc; đánh giá những giá trị văn hóa của hệ thống thành nhà Mạc trên đất Cao Bằng và thành nhà Mạc nói chung.

Những đóng góp mới của đề tài:

Thứ nhất, tổng quan được điều kiện lịch sử tự nhiên, của vùng đất Cao Bằng qua cách tiếp cận về địa lý, cảnh quan; qua các thời kỳ lịch sử; tổng quan tập trung vào thời kỳ nhà Mạc ở Cao Bằng.

Thứ hai, đưa ra được những đặc trưng  cơ bản của thành nhà Mạc ở Cao Bằng qua các khảo sát quy mô liên quan đến dấu tích còn lại của 5 tòa thành cổ (Nà Lữ, Phục Hòa, Pò Tập, Phia Khoang và Đoỏng Lẻng): vị trí các tòa thành luôn được xây ở vị trí trung tâm, thuận tiện cho giao thông, tận dụng triệt để được địa hình tự nhiên để xây dựng; thành có mặt bằng kiến trúc khá quy chỉnh cân đối hình chữ nhật, tường thành được xây dựng góc bắt khá vuông; lấy sông làm hào tự nhiên…

Thứ ba, chỉ ra được giá trị lịch sử - văn hóa hệ thống thành nhà Mạc ở Cao Bằng thế kỷ XVII (khẳng định chủ quyền biên giới, một vùng lãnh thổ dân tộc được nhà Mạc quan tâm gìn giữ); phản ánh thời kỳ đầy biến động nhưng ổn định của một dân tộc trên vùng đất địa đầu mà những tòa thành là hạt nhân; khẳng định những thành tựu, đóng góp của nhà Mạc vào lịch sử dân tộc qua các giá trị văn hóa được lưu giữ  trên gạch, ngói, đồ gốm, đúc rèn sắt, chế tác quân cụ đạn đá…

Thứ tư, đưa ra được các kiến nghị bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị các di tích tòa thành, tập trung vào thành Nà Lữ nhằm phát huy giá trị di tích này trong đời sống văn hóa đương đại, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên vùng đất biên cương của Tổ quốc.

Đề tài đạt loại: Khá.

VNO

2. Hội thảo khoa học

Sự kiện nước Anh ra khỏi Liên minh Châu Âu (Brexit) và tác động tới Việt Nam

Ngày 12/8/2016, tại Hà Nội, Viện Kinh tế chính trị học (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) tổ chức Hội thảo “Sự kiện nước Anh ra khỏi Liên minh Châu Âu (Brexit) và tác động tới Việt Nam”.

 Phát biểu đề dẫn, PGS.TS. Ngô Tuấn Nghĩa, Viện trưởng Viện Kinh tế chính trị học nêu rõ: Brexit đã gây ra sự bất ngờ lớn đối với nhiều chính phủ và trên thực tế đã có những tác động tới kinh tế, chính trị trên thế giới. Ngay khi kết quả cuộc trưng cầu dân ý được công bố với 51,89% ủng hộ, Brexit đã có những ảnh hưởng tới thị trường tài chính thế giới, tình hình chính trị Liên minh Châu Âu (EU) và Anh. Nếu Brexit không được giải quyết một cách hợp lý thì có thể sẽ làm tăng thêm sự bất ổn tại khu vực Châu Âu, từ đó tác động tiêu cực tới nền kinh tế thế giới. Việt Nam sẽ không tránh khỏi trước những tác động này. Do đó, cần nhanh chóng nghiên cứu để hoạch định chính sách hội nhập của đất nước một cách phù hợp, hiệu quả.

Hội thảo đã tập trung làm rõ các căn nguyên kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội dẫn tới hiện tượng Brexit; nghiên cứu làm rõ tác động của Brexit đối với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam; đưa ra các khuyến nghị  cho việc hoạch định chính sách hội nhập của Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn.

PGS.TS. Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: khi lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế, bị ảnh hưởng thì mọi sự hợp sẽ tan. Với Brexit cũng vậy, xung đột, mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa Anh và EU không thể điều hòa nên dẫn đến đổ vỡ.

TS. Lê Văn Chiến, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, khẳng định: nguyên nhân hàng đầu do bất đồng văn hóa, xung đột giá trị giữa Anh và EU và nhiều chính sách đòi hỏi sự độc lập, linh hoạt mà EU không đáp ứng được.

PGS.TS. Đoàn Xuân Thủy, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, trong nội bộ nước Anh, người dân có ý thức chính trị cao với niềm tự hào, kiêu hãnh dân tộc lớn.

Ths. Vũ Thanh Hà, Viện Nghiên cứu Châu Âu, bổ sung thêm ảnh hưởng của nhân tố truyền thông chống lại EU tại Anh. Theo đó, chiến lược tuyên truyền của những người ủng hộ rời EU tại Anh rất rầm rộ, tác động lớn đến người dân, nhất là những người còn chưa xác định rõ lập trường trong khi truyền thông ủng hộ việc ở lại lại gần như không có. 

Các ý kiến tại Hội thảo cho rằng, Brexit không ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam nhưng có nhiều hệ lụy, nhất là về kinh tế. Brexit khiến EU yếu đi, cơ chế hoạt động phải thay đổi, tình hình tài chính thế giới biến động nhưng tiếng nói của Anh trong các tổ chức quốc tế lớn hơn. Với Việt Nam, hậu Brexit, FTA cần phải được đàm phán lại (đối với các vấn đề liên quan đến Anh); ODA của EU vào Việt Nam sẽ giảm; xuất khẩu vào Anh và qua Anh gặp nhiều khó khăn; kim ngạch xuất khẩu vào Anh và Châu Âu có thể bị giảm sút do sự giảm giá tương đối của Bảng Anh và Euro…

Nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng để khi Brexit có hiệu lực thì không bị bỡ ngỡ. Để đối phó có hiệu quả với những tác động tiêu cực, duy trì và phát triển quan hệ thương mại với Anh, các doanh nghiệp Việt Nam một mặt cần có chương trình hành động bài bản, kiên trì theo đuổi các đối tác tiềm năng, xây dựng lòng tin cũng như chứng minh được năng lực hợp tác và chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, cũng cần chú ý đến các quy định mà thị trường này đặt ra. Đồng thời, phải chủ động mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Chính phủ phải đồng hành, tìm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin, tiếp thị, giúp doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu sang Anh không phải đi qua các nước EU để tiết giảm các chi phí và thời gian.           

           LM

Tư tưởng, lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn

Thực hiện thỏa thuận hợp tác khoa học giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào, ngày 11 tháng 7 năm 2016, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Tọa đàm khoa học quốc tế “Tư tưởng, lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn”.

Phát biểu khai mạc Tọa đàm, GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Viện Hàn lâm khẳng định: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Khoa học quốc gia Lào có mối quan hệ đặc biệt, trong suốt năm vừa qua cả hai Viện đã hợp tác trên mọi lĩnh vực: nghiên cứu khoa học, đào tạo và các hình thức khác góp phần thực hiện chức năng của mỗi Viện trong việc tư vấn chính sách nghiên cứu khoa học, tư vấn chính sách cho Đảng và Nhà nước. Tọa đàm khoa học quan trọng này cũng là một trong nhiều hình thức nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ giữa hai bên.

GS.TS. Soukongseng Saignaleuth, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào khẳng định, Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn là người sáng lập Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân Lào và cũng là người đưa ra tư tưởng xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân Lào tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi được giải phóng (1975), đất nước Lào phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức: năng lực quản lý nhà nước còn yếu kém; nền kinh tế lạc hậu, trì trệ; thù trong giặc ngoài chống phá. Chính trong thời điểm này, Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã lựa chọn con đường đổi mới, lãnh đạo toàn dân thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đưa đất nước Lào thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế. Đất nước muốn phát triển cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao; vì vậy, Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn chỉ đạo phải đưa giáo dục đi trước một bước, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, phải phát triển văn
hóa - xã hội và khoa học kỹ thuật, phải coi giáo dục là chìa khóa mở đường cho các ngành khác, giúp cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội được nhanh và vững chắc. Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn chỉ đạo: từng bước xóa dần sự chênh lệch giàu - nghèo; coi trọng hoạt động phúc lợi xã hội; khuyến khích sản xuất, lưu thông hàng hóa; xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp; khuyến khích sự phát triển kinh tế tư nhân và kinh tế gia đình; đồng thời hạn chế sự độc quyền trong thương mại.

Về quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, GS.TS. Soukongseng Saignaleuth nhấn mạnh rằng, quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Lào được xây dựng trên cơ sở tình yêu nước nồng nàn của nhân dân hai nước anh em, giúp đỡ gắn bó keo sơn giữa hai đảng, hai nhà nước suốt chiều dài lịch sử, đó là nền tảng quan trọng để Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn và các thế hệ lãnh đạo của hai nước tiếp tục vun đắp, giữ gìn, tăng cường sự hợp tác toàn diện, tình đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam, quan tâm giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ tương lai hiểu và thấm nhuần truyền thống hữu nghị và tình đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc. Phát biểu bế mạc Tọa đàm, PGS.TS. Đặng Nguyên Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh: cần tiếp tục nghiên cứu về tư tưởng, lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn. Các ý kiến tại Tọa đàm đã làm rõ được những yếu tố cơ bản về mặt tư tưởng, lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn, nhất là tầm nhìn xa của Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn về vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển nguồn nhân lực. Quan hệ hữu nghị giữa hai nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kaysỏn Phômvihẳn đã xây dựng là mối quan hệ đặc biệt cần có sự chăm sóc, vun đắp và có sự tham gia của nhiều bộ, ngành trong đó có Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào.

                                                       PTT

Việc hình thành các tổ chức công đoàn trong khuôn khổ TPP và các vấn đề pháp lý liên quan đến điều chỉnh hoạt động của các tổ chức đó

Ngày 24/8/2016, tại Hà Nội, Viện Nhà nước và Pháp luật đã tổ chức Hội thảo khoa học “Việc hình thành các tổ chức công đoàn trong khuôn khổ TPP và các vấn đề pháp lý liên quan đến điều chỉnh hoạt động của các tổ chức đó”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh: trong thời gian qua, Việt Nam đã ký rất nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Trong đó, Hiệp định TPP mà Việt Nam ký kết tháng 2/2016 là một trong những hiệp định có ý nghĩa quan trọng, không chỉ đối với các quốc gia tham gia Hiệp định này, mà còn với cả khu vực và thế giới. Tham gia TPP vừa là cơ hội và cũng là thách thức rất lớn đối với Việt Nam. Việc thành lập các tổ chức công đoàn trong khuôn khổ TPP và các vấn đề pháp lý liên quan đến điều chỉnh hoạt động của các tổ chức đó là một vấn đề có tính thời sự, không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với người lao động mà còn là dịp để các nhà khoa học có những dẫn giải khoa học về vai trò của tổ chức công đoàn trong thời đại mới. Đây là một nội dung mới đối với Việt Nam, có tác động không nhỏ tới hoạt động của hệ thống chính trị, nhất là đối với các tổ chức công đoàn thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Hội thảo tập trung thảo luận hai nội dung chính:

Thứ nhất, đánh giá quyền tự do lập hội của người lao động, quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động trong pháp luật quốc tế; phân tích các nội dung và yêu cầu của TPP đối với các nước thành viên về bảo đảm quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động; luận bàn về địa vị pháp lý và thủ tục thành lập tổ chức đại diện của người lao động từ yêu cầu của TPP; dự báo tác động của việc thực thi quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động.

Thứ hai, phân tích quyền tự do thành lập tổ chức đại diện người lao động theo TPP; làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền tự do thành lập tổ chức đại diện của người lao động; đánh giá các điều kiện bảo đảm thực thi cam kết TPP về tự do thành lập tổ chức đại diện người lao động; các nguyên tắc, các yêu cầu về hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm thực thi các cam kết TPP; tác động của việc thực hiện quyền tự do thành lập tổ chức đại diện người lao động theo TPP đến hoạt động quản lý nhà nước về lao động và hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; cơ sở pháp lý quốc tế và trong nước để giải quyết tranh chấp về quyền tự do liên kết của người lao động theo TPP.

Phát biểu kết luận Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn cho rằng, Hội thảo đã làm rõ những yêu cầu của TPP về quyền tự do liên kết của người lao động; xác định được những vấn đề pháp lý đặt ra liên quan đến quyền tự do liên kết của người lao động; phân tích và dự báo được những xu hướng, tác động của việc thực hiện TPP đến pháp luật và việc thực hiện pháp luật về quyền gia nhập, thành lập, hoạt động của các tổ chức công đoàn - đơn vị đại diện cho người lao động; đồng thời, gợi mở được những vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện TPP về quyền tự do liên kết của người lao động, góp phần tích cực vào việc tăng cường hiểu biết và thực thi chính sách của các tổ chức công đoàn trong thời gian tới.

MN

An ninh phi truyền thống trong tiến trình hội nhập khu vực: kinh nghiệm EU - ASEAN và những gợi mở chính sách cho Việt Nam

Trong hai ngày 8-9/9/2016, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) và Văn phòng Tổ chức Kondrad Adenauer Stiftung (KAS) của Cộng hòa Liên bang Đức tại Hà Nội tổ chức Hội thảo Quốc tế An ninh phi truyền thống trong tiến trình hội nhập khu vực: kinh nghiệm EU - ASEAN và những gợi mở chính sách cho Việt Nam”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS. Bùi Nhật Quang, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh, việc phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học này là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển tiếp theo trong quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa VASS và KAS, bởi từ lâu KAS đã là đối tác tin cậy của Viện Hàn lâm trong nghiên cứu, tư vấn chính sách, phối hợp tổ chức các sự kiện khoa học cùng nhiều hoạt động hợp tác thiết thực khác.

Trong lịch sử phát triển cận, hiện đại của thế giới đã và đang có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề an ninh nói chung và an ninh phi truyền thống nói riêng. Những năm gần đây, vấn đề an ninh phi truyền thống đã thu hút sự quan tâm ngày càng cao của các quốc gia. An ninh phi truyền thống trở thành nền tảng tạo ra cách tiếp cận mới trong đánh giá nhiều vấn đề phát triển lớn. Báo cáo Phát triển con người của UNDP năm 2004 đã xác định an ninh phi truyền thống bao gồm an ninh con người và an ninh cộng đồng. Báo cáo cũng chỉ ra rằng vấn đề an ninh phi truyền thống liên quan tới 7 lĩnh vực chủ yếu là kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị. Một số nghiên cứu khác lại quy vấn đề an ninh phi truyền thống vào 5 lĩnh vực cơ bản: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hóa trong khi cũng có nghiên cứu lại chỉ rõ hơn 6 mối đe dọa của an ninh phi truyền thống là ô nhiễm môi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia, nạn khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm và thảm họa tự nhiên.

Hội thảo tập trung thảo luận 3 vấn đề sau: kinh nghiệm quốc tế ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống trong tiến trình hội nhập khu vực; những vấn đề an ninh phi truyền thống trong tiến trình hội nhập khu vực và gợi mở chính sách cho Việt Nam; đối phó với các thảm họa tự nhiên và nhân tạo trong ASEAN.

Các tham luận và ý kiến đánh giá, làm rõ các quan điểm khác nhau và đưa ra các bài học kinh nghiệm, các giải pháp ứng phó với những thách thức của an ninh phi truyền thống trong bối cảnh hội nhập khu vực; tập trung phân tích những động lực hội nhập khu vực và liên khu vực của EU và ASEAN trong mối quan hệ với những thách thức an ninh phi truyền thống; xem xét vấn đề năng lượng tái tạo và phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở Trung Quốc và Indonesia; tìm hiểu kinh nghiệm của các nước Châu Âu trong việc giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống trong tiến trình hội nhập khu vực; vấn đề kinh nghiệm của Việt Nam ứng phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống trong tiến trình hội nhập khu vực.

TS. Naila Maier-Knapp, Đại học Albert-Ludwwigs, Cộng hòa Liên bang Đức đề cập   đến quá trình nhạy cảm hóa và an ninh hóa của EU dưới quan điểm an ninh phi truyền thống; nêu lên những thách thức và sự phát triển hiện thời ở Tây Âu không chỉ tạo ra sự liên kết và hợp tác khu vực của EU mà còn khiến các yếu tố an ninh biên giới gia tăng, tạo tiền đề thuận lợi cho EU và các đối tác tương đồng trong khu vực tăng cường những cuộc đối thoại và hợp tác liên khu vực về các vấn đề của an ninh phi truyền thống.

PGS.TS. Chu Đức Dũng, Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng, an ninh phi truyền thống là một bộ phận cấu thành của an ninh quốc gia. Việt Nam xác định hợp tác quốc tế là cần thiết để đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Vì vậy, Việt Nam đã tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực trong việc đối phó với những thách thức phi truyền thống.

PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Lê, Phó Ban kế hoạch - Tài chính, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đánh giá các tác động trực tiếp của rửa tiền lên các tổ chức tài chính như một mối đe dọa hiện hữu có thể làm phá sản các tổ chức này cũng như chỉ ra các tác động gián tiếp của nó tới cả hệ thống tài chính quốc gia và nền kinh tế.

Phát biểu kết thúc Hội thảo, PGS.TS. Bùi Nhật Quang đã khẳng định những kết quả Hội thảo mang tới cho các học giả, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức xã hội Việt Nam những vấn đề về lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm các nước EU, ASEAN về an ninh phi truyền thống; chia sẻ chuyên môn, sự hiểu biết và kinh nghiệm về vấn đề an ninh phi truyền thống trên thế giới, khu vực và tại một số quốc gia.                   

PTT

Chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam: 25 năm nhìn lại

Ngày 13/9/2016, tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “Chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam: 25 năm nhìn lại”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhấn mạnh: Công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay đã đạt được những thành tựu cơ bản, làm thay đổi một cách sâu sắc, toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực tôn giáo, các văn bản, chính sách của Đảng, Nhà nước đã từng bước đi vào cuộc sống, mang lại khởi sắc mới cho đời sống tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam. Cộng đồng đồng bào có tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta đã góp phần tích cực trong công tác đối ngoại của Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực tôn giáo và nhân quyền. Tuy nhiên, trước những biến đổi phức tạp, nhanh chóng của tình hình chính trị, an ninh, văn hóa thế giới, dưới tác động của toàn cầu hóa, công tác tôn giáo và chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam đã và đang bộc lộ một số bất cập. Nhiều chủ trương của Đảng về vấn đề tôn giáo chậm được thể chế hóa để triển khai trên thực tế. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức: tôn giáo, tín ngưỡng có nguy cơ bị lợi dụng thành “vũ khí” tinh thần làm giảm dần vai trò chủ đạo, giá trị nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc lợi dụng vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng làm phương tiện chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Do đó, việc đánh giá thành tựu và hạn chế của việc thực hiện chính sách, pháp luật về công tác tôn giáo, tín ngưỡng, trên cơ sở đó góp ý, đề xuất ý kiến cho dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo là công việc quan trọng.

Báo cáo đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: Trong mấy thập kỷ gần đây, vấn đề tôn giáo ngày càng trở nên phức tạp trên phạm vi toàn cầu, không gian tôn giáo tương tác mạnh mẽ với không gian thế tục. Để xử lý đúng đắn những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo. Nhận thức, quan điểm và chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác này có nhiều đổi mới. Nhờ đó, ở Việt Nam, các tôn giáo có sự phát triển về tín đồ, chức sắc… Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận đều hoạt động theo đúng giáo luật và pháp luật, gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tại Hội thảo, các nhà khoa học tập trung thảo luận 2 nội dung chính: kết quả 25 năm thực hiện chính sách pháp luật về tôn giáo; xây dựng chính sách pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng.

PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhấn mạnh quan điểm đổi mới của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo. Nhờ đó, công tác tôn giáo, tình hình tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến linh hoạt, tôn giáo ổn định, tuân thủ pháp luật và gắn bó cùng dân tộc. Khi xây dựng Luật, Tín ngưỡng, tôn giáo, cần có quy định công nhận tổ chức tôn giáo là pháp nhân phi lợi nhuận, để bảo đảm rà soát lại các vấn đề lớn của các quy định pháp luật hiện hành. Hoạt động truyền giáo trong hoàn cảnh mới cần phải nhìn nhận là việc bình thường của các tổ chức, cá nhân tôn giáo, là “thiên chức” của chức sắc, chức việc, nhà tu hành và các tín đồ tôn giáo; cần có quan điểm lịch sử và cụ thể trong ứng xử với các hoạt động truyền giáo. Trong Luật cần có sự “nới mở” cần thiết đối với hoạt động truyền giáo cho phù hợp. Tuy nhiên, cần phải xác định rõ chủ thể truyền đạo, cách thức, hình thức, phạm vi truyền đạo.

PGS.TS. Lê Quốc Lý thẳng thắn nêu một số hạn chế, yếu kém trong công tác tôn giáo: nhiều nội dung chỉ đạo của Đảng về vấn đề tôn giáo chậm được pháp luật hóa và thể chế hóa để triển khai trên thực tế. Một số quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo, không khả thi, chưa thể hiện đầy đủ, sâu sắc tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước về tôn giáo. Pháp luật về tôn giáo chưa đồng bộ và thống nhất, chưa đủ sức mạnh về pháp lý như một bộ luật để bảo đảm quyền tự do tôn giáo của người dân, cũng như xử phạt những hành vi vi phạm...

TS. Hoàng Văn Chung, Viện Nghiên cứu tôn giáo, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam nhìn nhận, tôn giáo có thể có đóng góp rất ý nghĩa đối với mở rộng phúc lợi xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội, giáo dục và khuyến khích công dân sống có trách nhiệm hơn đối với đất nước.

Phát biểu kết thúc Hội thảo, PGS.TS. Lê Quốc Lý khẳng định Hội thảo đã góp phần nghiên cứu, tổng kết, phân tích, đánh giá chính sách và pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam trong 25 năm qua; đặc biệt chỉ rõ bất cập, hạn chế và nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng; từ đó có những kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng và bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.                                                                                          

                 LM

100 năm ngày sinh Nhà trí thức cách mạng: Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông

Ngày 22/11/2016, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học: “100 năm ngày sinh Nhà trí thức cách mạng: Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã ôn lại tiểu sử và những dấu mốc quan trọng trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoạt động cách mạng của nhà trí thức Phạm Huy Thông. Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông sinh ngày 22/11/1916 ở Hà Nội, quê tại Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Năm 16 tuổi, Ông đã nổi tiếng là một trong những cây bút tiên phong của phong trào Thơ mới. Năm 17 tuổi đã xuất bản những bài thơ còn để mãi lại cho đời, như: Tiếng địch Sông Ô; Anh Nga... Năm 21 tuổi, Ông đỗ cử nhân Luật. Giáo sư cũng đã tốt nghiệp Thạc sĩ Sử - Địa và Tiến sĩ Luật khi còn rất trẻ.

Năm 1946, Ông được tham gia trong phái đoàn của Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, được chọn làm Thư ký riêng và phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính trong thời gian này được gần gũi, làm việc dưới sự chỉ bảo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ông đã quyết định lựa chọn cho mình con đường phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc và kiên định đi trên con đường ấy trong suốt cuộc đời.

Năm 1967, Ông được giao nhiệm vụ thành lập Viện Khảo cổ học. Từ đây, tên tuổi Phạm Huy Thông gắn liền và mãi mãi sống cùng những sự kiện có ý nghĩa nhất của ngành khảo cổ học Việt Nam. Viện Khảo cổ học được thành lập vào năm 1968; tổ chức nghiên cứu và khẳng định tính lịch sử của Thời đại các Vua Hùng với bốn Hội nghị liên tiếp về Thời đại Hùng Vương (Hùng Vương dựng nước) trong các năm 1968-1970; đặc biệt, dấu ấn ông để lại là Hội nghị Khảo cổ học hằng năm đã được tổ chức thường xuyên, năm nay là lần thứ 51; với cuốn Kỷ yếu được in lần đầu tiên năm 1972.

Năm 1976, Ông được cử giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Ông đã có nhiều đóng góp quan trọng, trực tiếp tham gia vào các công trình nghiên cứu lớn của Viện Văn học, Viện Ngôn ngữ học, Viện Sử học, Viện Hán Nôm... đồng thời cũng có nhiều đóng góp trong các chương trình hợp tác quốc tế. Các tổ chức quốc tế đã có những đánh giá cao về vai trò của ông trong các hoạt động đối ngoại. Viện Hàn lâm Khoa học nước Cộng hòa Dân chủ Đức đã trao tặng Giáo sư danh hiệu Viện sĩ nước ngoài.

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đánh giá cao tài năng và trí tuệ của Ông. GS.VS. Phạm Huy Thông là nhà khoa học được tín nhiệm giao nhiều cương vị lãnh đạo khác nhau: Tổng Thư ký phong trào Hòa bình miền Nam (năm 1954-1955); Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và là Quyền Bí thư Đảng ủy Bộ Giáo dục; Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam và Ủy viên Ủy ban Bảo vệ Hòa bình thế giới… Giáo sư cũng được Nhà nước tặng nhiều huân chương và các phần thưởng cao quý khác.

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Giang Hải, Viện trưởng Viện Khảo cổ học đã bổ sung thêm nhiều chi tiết trong cuộc đời hoạt động cách mạng và nghiên cứu khoa học của GS. Phạm Huy Thông, nhất là khi Ông được điều động về Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Viện Khảo cổ học. Bắt đầu từ đây, cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với ngành Khảo cổ học Việt Nam. Ông trở thành người Viện trưởng đầu tiên và lâu dài nhất suốt 20 năm của Viện Khảo cổ học. Dưới sự lãnh đạo của Giáo sư Phạm Huy Thông, Viện Khảo cổ học đã triển khai nhiều chương trình nghiên cứu lớn có giá trị; trong đó phải kể đến: Mười thế kỷ đầu Công nguyên, Văn minh Đại Việt, Trống đồng Đông Sơn... Bên cạnh đó, Ông cũng chính là người đã kiên trì và duy trì việc tổ chức Hội nghị Thông báo những phát hiện mới về khảo cổ học hằng năm cho đến tận hôm nay. Ông cũng là người chủ trương xuất bản các công bố này trong tập sách: Những phát hiện mới về Khảo cổ học (cuốn kỷ yếu đầu tiên được in vào năm 1972).

Các tham luận tôn vinh, đánh giá, khẳng định những đóng góp to lớn của cố Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông trên nhiều lĩnh vực, động viên các thế hệ những người làm khoa học noi gương, học tập, nghiên cứu tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước.

GS. Vũ Khiêu, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đánh giá về con người và sự nghiệp của Giáo sư Phạm Huy Thông - một nhà thơ lớn, một nhà chính trị lỗi lạc, một người lãnh đạo vững vàng của Ủy ban Khoa học xã hội, tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ngày nay. Một thời gian dài đã trôi qua từ ngày giáo sư qua đời. Những nguời bạn cũ hiểu biết về giáo sư không còn bao nhiêu nữa. Những người kế tục giáo sư sau này có lẽ cũng hiểu về ông chưa thật đầy đủ. Tôi mong rằng trong buổi tọa đàm này, những người quen biết giáo sư, cùng làm việc với giáo sư sẽ là những nhân chứng vô cùng quý báu trong buổi tham luận về giáo sư hôm nay.

GS. Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cho rằng, Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông là một trí thức uyên bác và tài hoa trên nhiều lĩnh vực, từ thi ca đến luật học, sử học, khảo cổ học, giáo dục học nhưng hình như niềm đam mê suốt đời của ông là lịch sử và chất sử ngấm vào ông trên tất cả các sáng tác, nghiên cứu và hoạt động xã hội. Ngoài các hoạt động cách mạng, cống hiến lớn nhất của ông là xây dựng nền đại học sư phạm và nền khảo cổ học Việt Nam.

Phát biểu kết thúc Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn khẳng định, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học này để một lần nữa, cùng nhau ôn lại và tri ân sự nghiệp của một con người đã hết mình vì sự nghiệp khoa học, vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Tấm gương sống và làm việc của Giáo sư, Viện sĩ Phạm Huy Thông sẽ luôn luôn cùng đồng hành, khích lệ các thế hệ người làm khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

                                                    PTT

3. Giới thiệu sách

An ninh Đông Bắc Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự gia tăng can dự Châu Á của Hoa Kỳ

Tác giả: TS. Hoàng Minh Hằng

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, 198 trang.

Tóm tắt nội dung:

Đông Bắc Á là nơi tập trung sự chú ý của nhiều cường quốc, trong đó có siêu cường Hoa Kỳ nên những diễn biến an ninh trong khu vực đã, đang và sẽ có những bất ổn ảnh hưởng không nhỏ mà các quốc gia trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại đều không thể bỏ qua. Nguyên nhân chủ yếu của những bất ổn này có liên quan mật thiết đến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc ở khu vực và sự gia tăng can dự ở Châu Á của siêu cường Hoa Kỳ kể từ cuối thập niên 2000 trở lại đây. Việc Trung Quốc vượt lên chiếm ngôi vị kinh tế thứ hai thế giới và trở thành một cường quốc quân sự với tốc độ hiện đại hóa quân đội nhanh chóng chưa từng thấy đã khiến cán cân quyền lực bị dịch chuyển. Sự chuyển hướng chiến lược “trở lại Châu Á” của Hoa Kỳ dù đang kéo cán cân trở lại nhưng lại đẩy mức độ cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc lên cao. Việc nghiên cứu, tìm hiểu những biến chuyển của tình hình an ninh khu vực Đông Bắc Á những năm gần đây đang trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Để giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này, Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành cuốn sách An ninh Đông Bắc Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự gia tăng can dự Châu Á của Hoa Kỳ do TS. Hoàng Minh Hằng (Chủ biên). Cuốn sách gồm 3 chương:

Chương 1: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự gia tăng can dự vào Châu Á của Hoa Kỳ.

 Trong chương này, tác giả tập trung phân tích chiến lược phát triển của Trung Quốc kể từ đầu thế kỷ XXI; sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế của Trung Quốc cũng như những bước tiến vượt bậc về quân sự của nước này. Bên cạnh đó, tác giả cũng đi sâu tìm hiểu sự gia tăng can dự vào Châu Á của Hoa Kỳ thông qua việc phân tích nguyên nhân Hoa Kỳ “trở lại Châu Á”; chiến lược “trở lại Châu Á” và những triển khai trên thực tế của Hoa Kỳ ở khu vực.

Chương 2: An ninh khu vực Đông Bắc Á dưới ảnh hưởng của việc Trung Quốc trỗi dậy và Hoa Kỳ tăng cường can dự vào khu vực Châu Á.

Trong chương này, tác giả tập trung phân tích về sự thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực; vấn đề tích cực gia tăng sức mạnh quân sự và ảnh hưởng của các quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á; tình trạng an ninh bấp bênh tại các điểm nóng Bán đảo Triều Tiên và Eo biển Đài Loan; sự bùng phát mạnh mẽ của các tranh chấp chủ quyền biển đảo trong khu vực; sự trì trệ của việc hình thành cơ chế hợp tác an ninh khu vực.

Chương 3: Đánh giá tác động và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam.

Trong chương này, tác giả đi sâu phân tích và đánh giá cục diện an ninh Đông Bắc Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự gia tăng can dự Châu Á của Hoa Kỳ tác động đến tình hình chính trị, an ninh thế giới; đối với khu vực Đông Nam Á; trong đó có Việt Nam và đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam: cần theo dõi sát sao để nắm bắt thông tin; thận trọng, nhất quán trên nguyên tắc chung sống hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ tránh bị lôi kéo vào các vấn đề tranh chấp giữa các quốc gia trong khu vực; luôn kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, giữ cân bằng trong quan hệ với các cường quốc trong khu vực; mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia, đặc biệt với các quốc gia láng giềng; tranh thủ sự ảnh hưởng của các cường quốc Đông Bắc Á để phục vụ cho lợi ích quốc gia; tham gia đóng góp vào sự thúc đẩy sự đoàn kết trong ASEAN, tránh để các cường quốc thao túng gây chia rẽ.

Cuốn sách An ninh Đông Bắc Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự gia tăng can dự Châu Á của Hoa Kỳ là tài liệu tham khảo hữu ích, góp phần vào việc nghiên cứu, lý giải những điều chỉnh chính sách đối ngoại và an ninh của các quốc gia trong khu vực những năm gần đây, giúp Việt Nam trong việc nhìn nhận và có đường lối chính sách hợp lý nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

MN

Các tin đã đưa ngày: