Liên kết website
Quảng cáo

Các hoạt động khoa học - Tạp chí Tiếng Việt số 11 (108) - 2016

11/11/2016

Hoạt động khoa học

 

1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu khoa học xã hội

Ứng phó với thiên tai của người dân vùng biển Bắc Trung Bộ (nhìn từ góc độ Tâm lý học)

- Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Lê Văn Hảo

- Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Tâm lý học

- Thời gian thực hiện: từ tháng 1-2013 đến tháng 12-2014

- Thời gian nghiệm thu cấp Bộ: 1-2015

- Nội dung nghiên cứu: một số vấn đề chung về ứng phó; nhận thức về thiên tai và chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với thiên tai; phong cách ứng phó và niềm tin liên quan đến năng lực ứng phó; ý thức cộng đồng và lòng tin xã hội như nguồn vốn xã hội trong hệ thống hỗ trợ tâm lý - xã hội.

 - Những đóng góp mới của đề tài:

Thứ nhất, đã chỉ rõ được cho người dân nhận thức tốt, phù hợp về thiên tai, bão lụt và xu hướng của chúng hiện nay. Họ đã chú ý, cảm nhận tác động tiêu cực của khí hậu và biến đổi khí hậu đối với cuộc sống con người nói chung và gia đình họ nói riêng; cư dân ven biển có mức độ sẵn sàng chuẩn bị ứng phó tốt để giảm nhẹ hậu quả thiên tai. Họ đã có nhiều cách thức để ứng phó, thích nghi liên quan đến an toàn cuộc sống và sinh kế.

Thứ hai, đã làm rõ được phong cách ứng phó với thiên tai của cư dân ven biển là: định hướng nhiệm vụ hay giải quyết vấn đề; né tránh; định hướng cảm xúc. Với nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương bởi thiên tai, chiến lược né tránh để giảm thiểu thiệt hại là một cách thích nghi phù hợp.

Thứ ba, đã phân tích, đánh giá được niềm tin vào mức độ kiểm soát bên trong của cư dân cao hơn đáng kể so với kiểm soát bên ngoài. Điều này lý giải vì sao họ đã sống và chống chọi với thiên tai hết năm này qua năm khác một cách chủ động, chịu mất mát, rồi lại tìm cách phục hồi. Họ đã học được cách thích nghi về nhiều mặt trong đó có mặt tâm lý, xã hội. Nhưng mặt khác, việc kiểm soát bên trong ở mức trên trung bình cũng phản ánh niềm tin nhất định vào số phận, vào trời đất, may rủi. Niềm tin (dân gian) vào số phận có thể giúp giảm nhẹ gánh nặng tâm lý khi con người đứng trước tình huống quá nghiệt ngã, vượt quá sức chịu đựng. Tuy nhiên, nó có thể làm suy giảm sự nỗ lực, cố gắng học hỏi, hay thích nghi tốt hơn với thiên tai. 

Thứ tư, đã làm sáng tỏ được ý thức về cộng đồng là một yếu tố quan trọng trong tình huống thiên tai. Lòng tin xã hội là nền móng cho những mối quan hệ tương hỗ tin cậy trong gia đình và cộng đồng, trong đó thành tố liên hệ tình cảm là nổi trội nhất, kế tiếp là thành tố hỗ trợ xã hội. Tác động về mặt thể chất và đặc biệt là tâm lý đối với thiên tai bão lụt của cư dân ven biển là không lớn. Người dân có mức độ tự tin cao, thể hiện trong việc duy trì các mối quan hệ, bầu không khí thân thiết, êm ấm trong gia đình, tự tin trong việc trở lại cuộc sống bình thường sau thiên tai, bão lụt.

- Đề tài đạt loại: Khá.

                                                          BH

Đấu tranh phòng chống một số tội phạm phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay

- Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Nguyễn Chí Dũng

- Cơ quan chủ trì đề tài:  Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

- Thời gian thực hiện: từ tháng 1-2014 đến tháng 12-2015

- Thời gian nghiệm thu cấp Bộ: 2-7-2016

- Nội dung nghiên cứu: làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng hoạt động đấu tranh phòng chống một số loại tội phạm phi truyền thống, trên cơ sở đó dự báo xu hướng biến đổi và đề xuất giải pháp nhằm phòng chống một số loại tội phạm này ở nước ta hiện nay.

- Những đóng góp mới của đề tài:

Thứ nhất, làm rõ được cơ sở lý luận của công tác phòng ngừa và đấu tranh với các loại hình tội phạm phi truyền thống.

Thứ hai, phân tích được thực trạng, nguyên nhân, những thành công và hạn chế trong đấu tranh phòng chống một số loại tội phạm phi truyền thống. Trên cơ sở đó nhận dạng và làm rõ được các loại hình tội phạm phi truyền thống ở nước ta hiện nay.

Thứ ba, đưa ra được 6 giải pháp nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm phi truyền thống ở Việt Nam hiện nay, gồm: (1) Bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, nhất là luật hình sự, làm cho những luật này bao quát được những loại tội phạm mới và những tội phạm cũ thủ đoạn mới. (2) Tăng cường công tác truyền thông (gồm truyền thông đại chúng và truyền thông trực tiếp) nhằm nâng cao nhận thức, chuyển đổi thái độ và hành vi cho cán bộ lãnh đạo quản lý và cộng đồng. (3) Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng về công nghệ thông tin cho cán bộ các cơ quan chức năng. (4) Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, huy động tối đa sức mạnh cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả thật sự cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm phi truyền thống. (5) Tăng cường hợp tác quốc tế. (6) Tạo môi trường xã hội thuận lợi, kết hợp chặt chẽ giữa các chương trình phòng chống tội phạm với các chương trình phát triển kinh tế xã hội...

- Đề tài đạt loại: Xuất sắc.

                                                       MN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay

- Chủ nhiệm đề tài: TS. Lý Việt Quang

- Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

- Thời gian thực hiện: từ tháng 1-2015 đến tháng 6-2016

- Thời gian nghiệm thu cấp Bộ: 6-2016

- Nội dung nghiên cứu: phân tích thực trạng, đề xuất những phương hướng, nội dung, giải pháp vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh vào đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay.

- Những đóng góp mới của đề tài:

Thứ nhất, trên cơ sở làm rõ tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh, đề tài phân tích được những nội dung cơ bản liên quan đến vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam: đổi mới nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa và nội dung của tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh.

Thứ hai, làm rõ được nhu cầu tất yếu phải vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào các giải pháp đổi mới căn bản, giáo dục. Qua đó, nhấn mạnh giáo dục lý luận phải gắn liền và kết hợp với yêu cầu thực tiễn, coi thực tiễn là thước đo tính đúng đắn của lý luận.

Thứ ba, đưa ra được 7 giải pháp nhằm vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển giáo dục, xây dựng con người phát triển toàn diện phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

- Đề tài đạt loại: Xuất sắc.

  MN

Lạm dụng rượu bia hiện nay ở nước ta từ góc nhìn xã hội học

- Chủ nhiệm đề tài: TS. Trương Xuân Trường

- Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Xã hội học

- Thời gian thực hiện: từ tháng 1-2015 đến tháng 12-2015

- Thời gian nghiệm thu cấp Bộ: 7-2016

- Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng chung về lạm dụng rượu bia hiện nay ở Việt Nam; tìm hiểu và đánh giá về nhận thức, thái độ, hành vi của các nhóm xã hội liên quan về vấn đề lạm dụng rượu bia; phân tích nguyên nhân lạm dụng rượu bia từ các khía cạnh xã hội - văn hóa; khuyến nghị các giải pháp khả thi và có tính hiệu quả về phòng chống lạm dụng sử dụng rượu bia trong đời sống xã hội.

- Những đóng góp mới của đề tài:

Thứ nhất, hệ thống hóa, đánh giá được khía cạnh văn hóa - xã hội từ quá trình lịch sử của “văn hóa rượu” trong đời sống xã hội truyền thống Việt Nam. Đồng thời, tổng quan được những nghiên cứu nổi bật gần đây trên thế giới về tình trạng lạm dụng rượu bia, bài học về phòng chống tình trạng lạm dụng rượu bia đang có xu hướng gia tăng hiện nay.

Thứ hai, phân tích được thực trạng tình hình lạm dụng rượu bia hiện nay; sự cung cấp rượu bia trên thị trường và trong cộng đồng; nhận thức, thái độ của người dân về lạm dụng rượu bia và phòng chống; các nguyên nhân trình trạng lạm dụng rượu bia hiện nay và nhận diện những người hiện nay đang lạm dụng rượu bia.

Thứ ba, phân tích, đánh giá, trả lời được các câu hỏi cơ bản trong vấn đề lạm dụng rượu bia hiện nay: tại sao người ta rất biết về tác hại của lạm dụng rượu bia nhưng vẫn gia tăng sử dụng chất độc hại này trong đời sống sinh hoạt hàng ngày? Người dân có nghĩ rằng việc sử dụng rượu hiện nay là không bình thường? Những người thường lạm dụng rượu bia là ai? Người dân nghĩ như thế nào về chất lượng rượu bia hiện có trên thị trường? Họ nhìn nhận như thế nào về sự quản lý, giám sát sản xuất và buôn bán rượu bia hiện nay trên thị trường? Làm thế nào để có thể hạn chế một cách có hiệu quả việc lạm dụng bia rượu trong đời sống xã hội?

Thứ tư, đề xuất soạn thảo bộ luật phòng chống tác hại của lạm dụng rượu bia, tập trung trước tiên vào giảm thiểu tác hại của lạm dụng rượu, bia đối với sức khỏe cộng đồng, an toàn xã hội.

Thứ năm, đưa ra được các giải pháp phòng chống lạm dụng sử dụng rượu bia trong đời sống xã hội như: tuyên truyền sâu rộng nhằm thay đổi nhận thức nhân dân; giảng dạy trong trường học phổ thông về tác hại của lạm dụng rượu bia; đưa vào luật với các biện pháp phạt nặng; có quy định chặt chẽ nhằm hạn chế quảng cáo rượu bia tràn lan; quản lý chặt chẽ về khâu sản xuất và lưu thông rượu bia; cấm cán bộ, đảng viên (công chức, viên chức) uống rượu bia trong giờ làm việc; quy định trong năm nên có 1-2 ngày tất cả các cửa hàng, siêu thị không bán rượu bia.

- Đề tài đạt loại: Khá.

                                                           BH

2. Hội thảo khoa học

Công bố Báo cáo nghiên cứu “Hướng tới bình đẳng giới tại Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ”

Ngày 3/6/2016, tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã Hội Việt Nam phối hợp cùng Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) tại Việt Nam với sự hỗ trợ của Chính phủ Australia và Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam đã tổ chức Hội thảo Công bố Báo cáo nghiên cứu “Hướng tới bình đẳng giới tại Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, bà Shoko Ishikawa, Trưởng đại diện của UN Women Việt Nam, khẳng định: Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tuy nhiên mô hình tăng trưởng kinh tế hiện tại của Việt Nam chưa chú ý đến việc bảo đảm quyền của phụ nữ được hưởng lợi bình đẳng từ sự phát triển. Nếu các chính sách và ưu tiên hiện thời không được xem xét lại và cải cách từ góc độ giới, thì việc hội nhập kinh tế sâu rộng hơn sẽ có thể bỏ phụ nữ lại phía sau. Ưu tiên bình đẳng giới cần phải đặt ở trung tâm của các chính sách phát triển. Đầu tư vào sự phát triển của phụ nữ là đầu tư vào tăng trưởng kinh tế. 

PGS.TS. Đặng Nguyên Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nhấn mạnh: việc công bố Báo cáo nghiên cứu là một minh chứng sinh động cho sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức quốc tế và trong nước đối với sự nghiệp phấn đấu cho bình đẳng giới ở Việt Nam. Để đạt được bình đẳng giới thực sự cho phụ nữ thì các chính sách phải bảo đảm được tính bao trùm xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến phụ nữ và các nhóm dễ bị tổn thương.  Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới và cam kết mạnh mẽ nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, điều này được phản ánh trong nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước, thông qua việc phê chuẩn các công ước quốc tế như Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và nhiều chính sách hỗ trợ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

Trên cơ sở đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam, Báo cáo chỉ ra rằng: Việt Nam đang đạt mức tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực và trên thế giới; phụ nữ đóng góp quan trọng trong sự phát triển đó nhưng việc đạt được mô hình tăng trưởng bao trùm vẫn là một thách thức đối với Việt Nam. Nghiên cứu cảnh báo rằng, nếu những lợi ích của tăng trưởng kinh tế được phân bổ không đều và quản lý không tốt, quá trình hội nhập có thể duy trì sự tách biệt về giới trên thị trường lao động, đồng thời làm gia tăng tình trạng dễ bị tổn thương của lao động nữ và duy trì khoảng cách tiền lương giữa hai giới.

Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam ông Layton Pike cho biết: Chính phủ Australia rất vui mừng được hỗ trợ Báo cáo nghiên cứu này bởi Báo cáo nhấn mạnh bình đẳng giới không phải một vấn đề bên lề. Từ nông nghiệp đến giáo dục, phụ nữ và nam giới tham gia khác nhau vào các lĩnh vực của nền kinh tế và khác nhau trong việc tiếp cận những nguồn lực và dịch vụ. Chúng ta cần có cách nhìn khác rằng sự chuyển đổi nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam đang ảnh hưởng tới phụ nữ so với nam giới. Vì vậy những chính sách và hành động cần tập trung tạo điều kiện để tất cả mọi người được thụ hưởng công bằng các lợi ích từ việc phát triển kinh tế xã hội.

Hội thảo công bố báo cáo nghiên cứu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây là báo cáo đầu tiên phân tích nền kinh tế thông qua lăng kính giới, trên cơ sở đó đề xuất các khuyến nghị chính sách với Việt Nam. Báo cáo nghiên cứu có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo về vị thế của nữ giới ở Việt Nam, đồng thời cung cấp các bằng chứng thực tiễn góp phần thúc đẩy mối quan tâm một cách rộng rãi và việc thông qua tất cả các chính sách và chương trình kinh tế có yếu tố giới của Chính phủ Việt Nam.

LM

Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa - Tầm nhìn và hành động

Ngày 3/6/2016, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu truyền thông phát triển (RED) phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) tổ chức Hội thảo “Chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa - Tầm nhìn và hành động”.

 Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Lê Văn Khương, Trưởng phòng Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa MPI, nhấn mạnh: Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là “xương sống” của các nền kinh tế. Hiện nay, DNNVV chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, và là khu vực đóng vai trò quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, đóng góp vào ngân sách nhà nước, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Do đó, việc xây dựng các chính sách hỗ trợ DNNVV là vô cùng cấp thiết và cần được quan tâm, chú trọng hơn nữa.

TS Lê Hồng Sơn, Nguyên Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản, Bộ Tư pháp, cho rằng: trong thời gian qua, Chính phủ đã nỗ lực trong việc thiết lập và duy trì môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng và thuận lợi cho doanh nghiệp thông qua việc ban hành và thực thi nhiều chính sách dành riêng cho DNVVN như Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, Kế hoạch phát triển DNVVN giai đoạn 2011 - 2015… Mặc dù vậy, các chính sách này mới chỉ dừng lại ở những quy định mang tính khuyến khích chung, chưa có những quy định ưu đãi rõ ràng, kết quả hỗ trợ còn hạn chế. Tiến độ thực hiện các chính sách, chương trình hỗ trợ còn chậm, thời gian để xây dựng các văn bản quy phạm hướng dẫn thực hiện kéo dài dẫn đến việc tổ chức thực hiện còn gặp nhiều vướng mắc.

Ông Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế của Tổ chức Economica khẳng định để cải thiện tình trạng bất bình đẳng, cần đổi mới tư duy về phương pháp tiếp cận đối với hỗ trợ DNNVV. Nếu như trước đây, DNNVV là đối tượng cần được bảo vệ, bảo hộ, thì hiện nay Nhà nước nên giữ vai trò kiến tạo, thúc đẩy với trọng tâm là nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Nhà nước cần ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, thiết lập các khung chính sách, các quy định phù hợp với nguyên tắc thị trường cũng như yêu cầu thực tiễn, và chỉ đưa ra các dịch vụ, các chương trình hỗ trợ cho các DNNVV khi thật sự cần thiết.

Ông Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính, nhấn mạnh: Nhà nước cần sớm ban hành Luật Hỗ trợ DNNVV nhằm tạo cơ hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, bảo đảm tính đồng bộ, tạo hành lang pháp lý, tạo cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc hỗ trợ DNNVV cần dựa trên các nguyên tắc: tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho DNNVV phát triển; hỗ trợ có chọn lọc, có mục tiêu, lựa chọn các DNNVV trong ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng phát triển; công khai, minh bạch, bình đẳng trong hỗ trợ để các DNNVV có cơ hội và có thể tiếp cận được nguồn lực hỗ trợ; Nhà nước dành kinh phí và huy động các nguồn lực khác để hỗ trợ DNNVV, xác định hệ thống cơ quan thực hiện hỗ trợ DNNVV ở Trung ương và địa phương; thống nhất, đồng bộ trong các chương trình hỗ trợ DNNVV.                                                                                                                               

LM

Hệ thống trích dẫn khoa học ASEAN và cách thức gia nhập mạng lưới hệ thống dữ liệu trích dẫn quốc tế

Ngày 22/6/2016, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hệ thống cơ sở dữ liệu trích dẫn khoa học Đông Nam Á (ACI) và Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tổ chức Hội thảo “Hệ thống trích dẫn khoa học ASEAN và cách thức gia nhập mạng lưới hệ thống dữ liệu trích dẫn quốc tế”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga, đã chỉ ra tầm quan trọng trong việc công bố khoa học, chỉ số trích dẫn của bài báo, hệ số ảnh hưởng của tạp chí khoa học đối với các nhà khoa học, tạp chí khoa học và cơ sở nghiên cứu. Đối với các cơ sở giáo dục, đây là một trong các tiêu chí quan trọng để tiến hành kiểm định, đánh giá, phân tầng, xếp hạng cơ sở giáo dục đại học. Trong các tiêu chí đó, công bố quốc tế luôn được coi như thước đo năng lực nghiên cứu và khả năng hội nhập của các cơ sở giáo dục đại học, các nhà khoa học.

GS.TS Narongrit Sombatsompop, Giám đốc Trung tâm Trích dẫn tạp chí Thái Lan (TCI), Chủ tịch ACI đã đề cập tới số lượng tạp chí của khu vực ASEAN trong các cơ sở trích dẫn quốc tế còn thấp, số lượng xuất bản phẩm của ASEAN đã tăng nhưng ít được biết đến, thiếu kết nối ở cấp quốc gia trong ASEAN. Đó chính là những lý do ra đời ACI nhằm hỗ trợ tốt hơn hoạt động đánh giá chất lượng các nghiên cứu, xếp hạng tốt hơn các cơ sở nghiên cứu của ASEAN, giúp sinh viên ASEAN lựa chọn trường đại học trong khu vực, đồng thời tạo mặt bằng chung về chất lượng nghiên cứu (quốc gia, khu vực và trên thế giới). Có 9 tiêu chí đánh giá tạp chí của ACI, gồm: các bài báo được xuất bản phải được phản biện trước khi công bố; xuất bản tạp chí đúng thời hạn công bố; tạp chí có tuổi đời xuất bản tối thiểu là 3 năm (hoặc đã xuất bản 6 số); có được trích dẫn trong cơ sở dữ liệu TCI hoặc/và có các cơ sở dữ liệu quốc gia và quốc tế khác; đa dạng về tác giả; đa dạng về thành viên Hội đồng Biên tập; tôn chỉ mục đích và chính sách tạp chí rõ ràng; trình bày tạp chí thống nhất (tài liệu tham khảo, bảng biểu,…); có website tạp chí hoặc hệ thống xuất bản trực tuyến (phải cập nhật và đủ thông tin).

Các đại biểu tập trung thảo luận những nội dung: điều kiện để xây dựng và vận hành Hệ thống trích dẫn khoa học Việt Nam (VCI); phương thức kết nối với Hệ thống trích dẫn khoa học ASEAN; định hướng nâng cấp tạp chí khoa học của các cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn quốc tế; kinh nghiệm quốc tế về phát triển tạp chí khoa học trong nước; các giải pháp hỗ trợ nâng cao chất lượng và số lượng các công trình công bố quốc tế và kinh nghiệm của các nước ASEAN.

Phát biểu tổng kết Hội thảo, Thứ trưởng Bùi Văn Ga khẳng định, tiếp tục lựa chọn và hỗ trợ các tạp chí có khả năng, có điều kiện nâng cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời giao Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu và các tạp chí khoa học Việt Nam tiến hành xây dựng Đề án thành lập Trung tâm VCI trong thời gian tới.

                                                       PTT

 

“Đối tác chia sẻ kinh nghiệm phát triển vì tầm nhìn Việt Nam”

Ngày 8/8/2016 tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện) phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc tại Việt Nam và Đại học Yonsei tổ chức Hội thảo khoa học “Đối tác chia sẻ kinh nghiệm phát triển vì tầm nhìn Việt Nam”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Tất Giáp, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đã điểm lại những nét chính trong mối quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững giữa Việt Nam - Hàn Quốc trong hơn 20 năm qua và khẳng định rằng, Chương trình Đối tác trao đổi kinh nghiệm phát triển (DEEP) vì tầm nhìn Việt Nam là một trong những biểu trưng cho sự phát triển quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam - Hàn Quốc, nhất là trong các lĩnh vực: giáo dục, trao đổi học giả, học thuật về kinh nghiệm hoạch định và thực thi chính sách.

Hội thảo gồm 3 chủ đề chính: phát triển nguồn nhân lực cấp cao; cải cách khu vực công; xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Nhằm cung cấp luận cứ chuẩn bị “Báo cáo Việt Nam 2035 - Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”, các ý kiến và tham luận tập trung vào 6 nội dung: xây dựng thể chế hiện đại và Nhà nước hiệu quả; hiện đại hóa nền kinh tế và phát triển khu vực tư nhân trong nước có năng lực cạnh tranh cao; phát triển năng lực đổi mới sáng tạo; bảo đảm công bằng thúc đẩy hòa nhập xã hội; phát triển bền vững về môi trường và tăng cường khả năng chống chịu với khí hậu; đô thị hóa và nâng cao hiệu quả kinh tế. Để hiện thực hóa khát vọng 2035, việc vận dụng tri thức kinh nghiệm quốc tế phù hợp thực tiễn phát triển của đất nước là một trong những yếu tố đóng vai trò quyết định cho những đột phá mới của Việt Nam. Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy rằng, chỉ chưa đầy ba thập kỷ, quốc gia Đông Á này đã trở thành một trong bốn “con rồng kinh tế Châu Á”, về những thành tựu vượt trội trong xuất khẩu hàng điện tử, ô tô, tàu biển, máy móc, hóa dầu và rô-bốt… Đây chính là bài học kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trước mắt, Việt Nam cần phải chú trọng vào các đột phá cụ thể, thay đổi và cải cách tích cực những mặt còn hạn chế trong lĩnh vực hành chính công, hoạch định chính sách và tận dụng tối đa những lợi ích có được thông qua DEEP vì tầm nhìn Việt Nam, từng bước giành được nhiều thành công hơn nữa trên con đường phát triển.

Ông Lee Hyuk, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hàn Quốc tại Việt Nam, khẳng định những thành công bước đầu của Chương trình và cho rằng DEEP vì tầm nhìn Việt Nam góp phần tham mưu hiệu quả cho các cấp chính quyền trong việc hoạch định và thực thi các chính sách kinh tế - xã hội nhằm tạo thêm các cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, học thuật giữa các nhà khoa học hai nước. Đồng thời, tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị, hợp tác, truyền thống và chiến lược giữa hai quốc gia.

                                                        MN

Hội nghị tập huấn công tác Vì sự tiến bộ Phụ nữ và công tác Công đoàn năm 2016

Ngày 18/9/2016, tại Mộc Châu, Ban Vì sự tiến bộ Phụ nữ và Công đoàn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Hội nghị tập huấn công tác Vì sự tiến bộ Phụ nữ và công tác Công đoàn năm 2016.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, PGS.TS. Đặng Nguyên Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm, Trưởng ban Ban Vì sự tiến bộ Phụ nữ, nhận định: đối với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ được xem là nhiệm vụ quan trọng. Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là một bộ phận cấu thành, quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là đến năm 2020, về cơ bản bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Để đạt được các mục tiêu trên, Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Viện Hàn lâm nói chung và các tiểu ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các đơn vị cần đẩy mạnh hoạt động của công tác phụ nữ, đặc biệt tăng cường nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức về công tác bình đẳng giới trong đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm…

Các tham luận tại Hội nghị tập trung vào hai vấn đề chính: vấn đề bình đẳng giới ở Viện Hàn lâm; triển khai hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tại các đơn vị.

Về vấn đề bình đẳng giới, các ý kiến phát biểu tại hội nghị đều cho rằng ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam không có sự bất bình đẳng giới; cán bộ nữ chiếm số lượng đông hơn nam giới, các cán bộ nữ đều được tạo điều kiện thuận lợi nhất trong công tác quản lý, trong chuyên môn nghiệp vụ và đào tạo.

                                                         HN

Khủng hoảng tài chính, kinh tế của Liên minh Châu Âu hiện nay: Kinh nghiệm cho ASEAN và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam

Ngày 16/8/2016, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) đã tổ chức Tọa đàm khoa học “Khủng hoảng tài chính, kinh tế của Liên minh Châu Âu hiện nay: Kinh nghiệm cho ASEAN và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam”

Bà Maria Angelles Pelegrin, Phó giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên Khoa Kinh tế và Kinh doanh, Đại học Barcelona, Tây Ban Nha đã trình bày những vấn đề mà học giả Việt Nam quan tâm là khủng hoảng tài chính và tiền tệ của Liên minh Châu Âu (EU). Đây là một liên minh kinh tế chính trị bao gồm 27 thành viên đã phát triển một thị trường chung thông qua hệ thống pháp luật tiêu biểu áp dụng cho tất cả các nước thành viên nhằm đảm bảo sự lưu thông tự do của con người, hàng hóa, dịch vụ và vốn. Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2010, với khởi sự suy thoái tại Hy Lạp, EU đã phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính và tiền tệ nghiêm trọng, các nước như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia… đang là các quốc gia có nhiều nguy cơ tụt hạng tín dụng, nhiều quốc gia bị đẩy tới bờ vực phải nhận gói cứu trợ… Đây là những thách thức nghiêm trọng đe dọa tới sự tồn tại của đồng tiền chung Euro, gây ảnh hưởng tới nền tài chính toàn cầu.

ASEAN là tổ chức khu vực hội nhập nhất trong số các nước đang phát triển. Mặc dù không thể coi EU là một hình mẫu cho sự phát triển kinh tế, nhưng có một điều không thể phủ nhận là ASEAN có thể rút ra nhận thức sâu sắc về việc hội nhập kinh tế cần được xử lý cẩn thận như thế nào. Bà Maria cho rằng ASEAN nên bắt đầu với những nỗ lực để đạt được sự phát triển kinh tế như nhau ở mỗi nước thành viên. Điều quan trọng là ASEAN phải đảm bảo tất cả các nước thành viên phát triển kinh tế với cùng một nhịp độ và không nước nào bị tụt lại phía sau.

Bên cạnh đó, ASEAN cũng cần tạo ra một cơ chế đảm bảo phản ứng nhanh và thích hợp khi có một cuộc khủng hoảng xảy ra. Tăng cường yếu tố minh bạch và sự tin cậy trong nội tại ASEAN là điều cần thiết để thị trường tin rằng ASEAN có thể xử lý ổn thỏa mọi vấn đề…

Tọa đàm đã trở thành diễn đàn sôi nổi để các học giả có thêm cơ hội trao đổi các vấn đề học thuật, giúp các học giả nhận diện một cách rõ hơn các hướng tiếp cận, trao đổi mới cần được đẩy mạnh giữa Việt Nam và Tây Ban Nha.

MN

Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam

Ngày 23/9/2016, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và Tỉnh ủy Quảng Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam”.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định: cụ Huỳnh Thúc Kháng là một chí sỹ yêu nước nổi tiếng, nhà hoạt động văn hóa xuất sắc, nhà lãnh đạo mẫu mực, người cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam và quê hương Quảng Nam. Cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng là tấm gương sáng về tinh thần yêu nước chân chính, đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, đồng thời là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập. Ghi nhận những cống hiến to lớn của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã truy tặng Huân chương Sao Vàng cho cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Hội thảo là dịp để chúng ta tưởng nhớ, tri ân công lao to lớn của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, là dịp để học tập tấm gương một nhà lãnh đạo, nhà yêu nước tài năng, đức độ, hết lòng vì nước vì dân. Từ đó, nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm mỗi người ở mỗi vị trí, cương vị cụ thể đều có thể đóng góp xây dựng khối đại đoàn kết và sức mạnh toàn dân tộc, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Báo cáo đề dẫn Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: cụ Huỳnh Thúc Kháng là gương mặt tiêu biểu của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX; là tấm gương của tinh thần yêu nước và cách mạng, luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, cả đời phấn đấu vì nước, vì dân. Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh trong một gia đình nhà Nho tại làng Thạnh Bình (xã Tiên Cảnh, Tiên Phước), vùng đất giàu truyền thống yêu nước và hiếu học. Nổi tiếng học giỏi, đỗ đạt sớm nhưng cụ xác định học không để ra làm quan, mà để giúp dân, giúp nước. Kế thừa truyền thống gia đình, dòng họ và quê hương Quảng Nam, trực tiếp chứng kiến nỗi đau “nước mất nhà tan”, cụ Huỳnh sớm quyết chí gắn bó cả cuộc đời với sự nghiệp cứu dân, cứu nước. Cùng những sĩ phu yêu nước đương thời như Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can khởi xướng phong trào Duy Tân, tích cực tuyên truyền tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, cổ xúy công cuộc canh tân đất nước…

Tại Hội thảo, các nhà khoa học tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề sau: nhân tố tác động hình thành nhân cách, sự nghiệp của Huỳnh Thúc Kháng; đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với cách mạng Việt Nam; tấm gương ngời sáng của một nhân cách cao đẹp; tình cảm của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với Quảng Nam, Quảng Nam đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng.

PGS. TS. Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chỉ rõ: cống hiến lớn nhất của cụ Huỳnh Thúc Kháng là tấm gương sáng về chủ nghĩa yêu nước của một chí sĩ cách mạng, cả cuộc đời không màng danh vị, giàu sang; hy sinh vì hạnh phúc của nhân dân và sự phát triển của đất nước.

Đồng chí Lê Vĩnh Tân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ khẳng định: trên cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã góp phần xây dựng và kiện toàn tổ chức, bộ máy trong những ngày đầu thành lập; xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức bộ máy của chính quyền cách mạng; quản lý công chức, công vụ, thực hiện chế độ, chính sách cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng. Cụ Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt chú ý đến bảo vệ quyền tự do cá nhân, quyền con người.

Đồng chí Nguyễn Tuấn Anh, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cho rằng: cụ Huỳnh Thúc Kháng có nhiều đóng góp tích cực vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Quan niệm: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc” đã thể hiện rõ tấm lòng của con người suốt đời yêu nước, thương dân.

Phát biểu bế mạc Hội thảo, GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng khẳng định: hơn 60 tham luận của các nhà khoa học đã làm rõ hơn cuộc đời hoạt động và những cống hiến to lớn của cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Hội thảo là hoạt động có ý nghĩa thiết thực kỷ niệm 140 năm Ngày sinh Quyền Chủ tịch Chính phủ Huỳnh Thúc Kháng.

LM

3. Giới thiệu sách

Phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam

-  Tác giả: TS. Tô Thị Ánh Dương

-  Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, 343 trang.

-  Tóm tắt nội dung:

Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi giao dịch ngắn hạn về vốn. Thị trường tiền tệ có vai trò rất quan trọng đối với ngân hàng trung ương và các tổ chức tín dụng vì nó chính là kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ của ngân hàng, là nơi thực hiện việc điều tiết vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng... Thị trường tiền tệ phát triển như hiện nay thì việc tiếp cận với các thông tin thị trường kịp thời, đầy đủ, giúp các tổ chức tín dụng tận dụng tốt các cơ hội đầu tư trên thị trường và chủ động trong việc điều tiết vốn khả dụng… Để giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này, Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành cuốn sách Phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam do TS. Tô Thị Ánh Dương (Chủ biên). Cuốn sách gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thị trường tiền tệ và vai trò quản lý, giám sát thị trường tiền tệ của ngân hàng trung ương

 

Trong chương này tác giả trình bày 3 vấn đề chủ yếu: hệ thống hóa lý luận chung về thị trường tiền tệ, từ khái niệm, cấu trúc và phân loại thị trường tiền tệ, vai trò, chức năng của thị trường tiền tệ trong thị trường tài chính đến các điều kiện cho sự ổn định và phát triển của thị trường tiền tệ, cơ chế của truyền tải chính sách tiền tệ; vai trò của ngân hàng trung ương trong việc đảm bảo sự ổn định của thị trường tiền tệ; và phân tích kinh nghiệm phát triển, quản lý thị trường tiền tệ của một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Lan, Cộng hòa Séc và rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý, điều tiết thị trường tiền tệ.

 

Chương 2: Thực trạng thị trường tiền tệ ở Việt Nam

 

Tác giả phân tích rõ nét thị trường tiền tệ Việt Nam trên bình diện khung khổ pháp lý, các chủ thể tham gia, các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường tiền tệ. Phân tích các hệ thống cấu trúc thị trường, như: thị trường giao dịch giữa hệ thống ngân hàng thương mại với nền kinh tế, thị trường cho vay, tiền gửi, ngoại hối, ngoại tệ, thị trường mua bán, phát hành giấy tờ có giá trị... trong mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ với một số thị trường khác như: chứng khoán, bất động sản…

 

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam đến năm 2020

 

Tác giả đưa ra quan điểm, định hướng phát triển thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2020 và các nhóm giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện thị trường tiền tệ hướng tới thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần phải đổi mới chính sách tiền tệ và nâng cao vai trò quản lý, giám sát thị trường tiền tệ; tăng cường công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng; phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa; tái cơ cấu đầu tư công và doanh nghiệp nhà nước… nhằm hướng tới sự phát triển ổn định của thị trường tiền tệ, đáp ứng được yêu cầu ổn định vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát và tăng trưởng, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế nhanh và bền vững giai đoạn từ nay đến năm 2020.                            

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc hoạch định chính sách, nghiên cứu và đào tạo về phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam.

                                                       MN

Con đường củng cố an ninh và hợp tác ở Đông Á

-  Tác giả: GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn,
GS.TSKH. Mazyrin V.M (Đồng chủ biên)

-  Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2016, 523 trang.

-  Tóm tắt nội dung:

Đông Á đã và đang đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống và những thách thức do một số thế lực dân tộc chủ nghĩa cực đoan có tham vọng địa chính trị. Ngoài những vấn đề an ninh, tại Đông Á cũng đã và đang hình thành những cơ sở cho sự hợp tác giữa các nước trong khu vực với nhau và với các nước ngoài khu vực trên nền tảng của những tư duy mới với các cách tiếp cận phù hợp với thời đại mới. Tuy vậy, hiện nay Đông Á chưa có cơ chế đảm bảo an ninh đủ mạnh để có thể tranh thủ được sự ủng hộ của tất cả các “đối thủ” trong khu vực. Do vậy, cần có một cơ chế đa phương cảnh báo sớm để ngăn ngừa khủng hoảng. Cách thực tế nhất để giải quyết điều này, là xây dựng cơ chế đảm bảo an ninh và hợp tác Đông Á trên cơ sở “Phương pháp ASEAN” của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á đã được thời gian thử nghiệm. Để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này, Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành cuốn sách Con đường củng cố an ninh và hợp tác ở Đông Á do GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn và GS.TSKH. Mazyrin V.M (Đồng chủ biên). Cuốn sách gồm 3 phần:

Phần 1. Tình hình an ninh khu vực Đông Nam Á - những xu hướng chung

Trong phần này, các tác giả đã phân tích làm rõ nhiều vấn đề như: sự hình thành hiện trạng địa chính trị mới tại Đông Á và vai trò của nước Nga; những thách thức an ninh toàn cầu và khu vực; an ninh sinh thái ở Đông Á; những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong nền kinh tế Đông Á và cách khắc phục; cấu trúc an ninh đang hình thành ở Đông Á; đòn bẩy kinh tế tăng cường an ninh và hợp tác trong khu vực. Đồng thời tác giả còn đề cập tới khả năng đối tác, hợp tác song phương và đa phương của các nước Đông Á với Nga; các vấn đề an ninh và khả năng hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống tại Đông Á.

Phần 2: Chính sách của các nước lớn đối với khu vực

Trên cơ sở nghiên cứu sự trỗi dậy của Trung Quốc, các tác giả đề cập đến các vấn đề như: chính sách đối ngoại của thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc và triển vọng quan hệ giữa các cường quốc tại Đông Á; điều chỉnh chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc và tác động của nó tới an ninh Đông Á; điều chỉnh chiến lược an ninh - quốc phòng của Trung Quốc sau Đại hội XVIII, tác động của nó đối với khu vực và Việt Nam; chính sách Đông Á của Thủ tướng Ấn Độ… Qua đó, các tác giả góp phần làm sáng tỏ các vấn đề như: khả năng can dự của Ấn Độ; cơ chế thực hiện quan hệ đa phương, song phương trong ASEAN; chính sách của Nhật Bản với Đông Á; nguy cơ phổ biến vũ khí hủy diệt, vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên…

Phần 3: Ảnh hưởng của Trung Quốc - Nga - ASEAN tới an ninh khu vực

Trong phần này các tác giả phân tích về triển vọng phát triển trong quan hệ đối tác đối thoại giữa Nga - ASEAN; ảnh hưởng của những thay đổi địa chính trị khu vực đến an ninh của Việt Nam; quan hệ Việt Nam và an ninh khu vực trước tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông…

Cuốn sách Con đường củng cố an ninh và hợp tác ở Đông Á là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu khoa học của Việt Nam và Nga, những người quan tâm có cái nhìn rõ hơn về các vấn đề lớn liên quan đến tình hình an ninh và chính trị Đông Á trong các thập niên đầu thế
kỷ XXI.

MN

Xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Indonesia

-  Tác giả: Nguyễn Hồng Thu (Chủ biên)

-  Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015, 211 trang.

-  Tóm tắt nội dung:

Khi khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 xảy ra, đồng Rupiah của Indonesia liên tục bị mất giá trầm trọng đã làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các doanh nghiệp, khiến cho món nợ ngân hàng của các doanh nghiệp tăng lên, nhất là với các doanh nghiệp vay nợ nước ngoài bằng đồng USD. Khó khăn của các doanh nghiệp nhanh chóng trở thành khó khăn của các tổ chức tài chính, ngân hàng khi họ không thu hồi được các khoản nợ của doanh nghiệp. Hàng loạt ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thua lỗ, thậm chí có nguy cơ mất khả năng thanh khoản hoặc phá sản. Để giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát hơn về kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Indonesia, Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành cuốn sách Xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại: Kinh nghiệm của Indonesia do ThS. Nguyễn Hồng Thu, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới (Chủ biên). Cuốn sách gồm 3 chương:

Chương 1: Nợ xấu của Indonesia trong và sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997.

Trong chương này các tác giả đã tập trung phân tích những tác động của khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 đến Indonesia trên 3 phương diện: kinh tế, chính trị và xã hội; đồng thời đưa ra 6 nguyên nhân dẫn tới nợ xấu ở Indonesia bao gồm: giám sát và quản lý điều hành hệ thống ngân hàng lỏng lẻo; sự yếu kém trong khả năng giám sát doanh nghiệp; bùng nổ tín dụng với dòng vốn nước ngoài; dòng vốn nước ngoài đổ vào khu vực tư nhân phần lớn là dòng vốn ngắn hạn; vay nợ chủ yếu được đầu tư dài hạn vào bất động sản; sự phát giá của đồng Rupiah.

Chương 2: Xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại Indonesia

Trên cơ sở phân tích các giải pháp xử lý nợ xấu do chính phủ, ngân hàng và các doanh nghiệp thực hiện các tác giả đã rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau: thứ nhất, xử lý nợ xấu phải nhanh, dứt điểm với quyết tâm và mang tính đồng thuận chính trị cao; thứ hai, hoàn thiện cơ sở pháp lý; thứ ba, quản trị tốt trong khu vực nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp; thứ tư, thành lập Công ty Quản lý tài sản độc lập, minh bạch; thứ năm, xử lý nợ xấu phải gắn với cơ cấu nợ của doanh nghiệp; thứ sáu, mở rộng bán nợ xấu cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước; thứ bảy, đánh giá chính xác tình hình các ngân hàng, doanh nghiệp để tái cấu trúc; thứ tám, hướng phát triển dựa vào các nguồn tích lũy trong nước là chính, giảm vay nợ nước ngoài.

Chương 3: Một số hàm ý chính sách xử lý nợ xấu cho Việt Nam

Các tác giả khuyến nghị Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý; tiếp tục hoàn thiện chức năng cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng; có cơ chế xã hội hóa các nguồn lực xử lý nợ xấu; phát triển thị trường mua bán nợ; tăng cường phối hợp giữa ngân hàng nhà nước, các bộ, ngành, địa phương; tăng cường kiểm tra, giám sát các ngân hàng.

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, giảng dạy và những người quan tâm đến xử lý nợ xấu của các ngân hàng.

VNO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các tin đã đưa ngày: